Thứ Hai, 6 tháng 1, 2014
Tìm hiểu và phân tích mô hình kế toán tinh gọn trong các doanh nghiệp hiện nay
Lợi thế thương mại – những vấn đề cần làm rõ
Chính phủ ban hành nghị định hướng dẫn mức đóng BHYT từ 01/07/2009 - Nghị định 62/2009/NĐ-CP
Từ ngày 1/1/2012, người thuộc hộ gia đình làm nông
Những tồn tại của VAS và ảnh hưởng đến nhà đầu tư?
Sổ sách kế toán theo Hình thức kế toán trên máy vi tính
Đặc trưng cơ bản của Hình thức kế toán trên máy vi tính là
Sổ sách kế toán theo Hình thức Nhật ký chứng từ
1/ Đặc trưng cơ bản của hình thức kế toán Nhật ký-Chứng từ (NKCT)
- Tập hợp và hệ thống hoá các nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo bên Có của các tài khoản kết hợp với việc phân tích các nghiệp vụ kinh tế đó theo các tài khoản đối ứng Nợ.
- Kết hợp chặt chẽ việc ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo trình tự thời gian với việc hệ thống hoá các nghiệp vụ theo nội dung kinh tế (theo tài khoản).
- Kết hợp rộng rãi việc hạch toán tổng hợp với hạch toán chi tiết trên cùng một sổ kế toán và trong cùng một quá trình ghi chép.
- Sử dụng các mẫu sổ in sẵn các quan hệ đối ứng tài khoản, chỉ tiêu quản lý kinh tế, tài chính và lập báo cáo tài chính.
Hình thức kế toán Nhật ký – Chứng từ gồm có các loại sổ kế toán sau:
+ Nhật ký chứng từ,
+ Bảng kê;
+ Sổ Cái;
+ Sổ hoặc thẻ kế toán chi tiết.
2/ Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức kế toán Nhật ký - Chứng từ (Biểu số 04)
(1) Hàng ngày, căn cứ vào các chứng từ kế toán đã được kiểm tra lấy số liệu ghi trực tiếp vào các Nhật ký - Chứng từ hoặc Bảng kê, sổ chi tiết có liên quan.
Đối với các loại chi phí sản xuất, kinh doanh phát sinh nhiều lần hoặc mang tính chất phân bổ, các chứng từ gốc trước hết được tập hợp và phân loại trong các bảng phân bổ, sau đó lấy số liệu kết quả của bảng phân bổ ghi vào các Bảng kê và Nhật ký - Chứng từ có liên quan.
Đối với các Nhật ký - Chứng từ được ghi căn cứ vào các Bảng kê, sổ chi tiết thì căn cứ vào s
ố liệu tổng cộng của bảng kê, sổ chi tiết, cuối tháng chuyển số liệu vào Nhật ký - Chứng từ.
(2) Cuối tháng khoá sổ, cộng số liệu trên các Nhật ký - Chứng từ, kiểm tra, đối chiếu số liệu trên các Nhật ký - Chứng từ với các sổ, thẻ kế toán chi tiết, bảng tổng hợp chi tiết có liên quan và lấy số liệu tổng cộng của các Nhật ký - Chứng từ ghi trực tiếp vào Sổ Cái.
Đối với các chứng từ có liên quan đến các sổ, thẻ kế toán chi tiết thì được ghi trực tiếp vào các sổ, thẻ có liên quan. Cuối tháng, cộng các sổ hoặc thẻ kế toán chi tiết và căn cứ vào sổ hoặc thẻ kế toán chi tiết để lập các Bảng tổng hợp chi tiết theo từng tài khoản để đối chiếu với Sổ Cái.
Số liệu tổng cộng ở Sổ Cái và một số chỉ tiêu chi tiết trong Nhật ký - Chứng từ, Bảng kê và các Bảng tổng hợp chi tiết được dùng để lập báo cáo tài chính.
Sổ sách kế toán theo Hình thức kế toán Chứng từ ghi sổ
1/ Đặc trưng cơ bản của hình thức kế toán Chứng từ ghi sổ:
Đặc trưng cơ bản của hình thức kế toán Chứng từ ghi sổ: Căn cứ trực tiếp để ghi sổ kế toán tổng hợp là “Chứng từ ghi sổ”. Việc ghi sổ kế toán tổng hợp bao gồm:
+ Ghi theo trình tự thời gian trên Sổ Đăng ký Chứng từ ghi sổ.
+ Ghi theo nội dung kinh tế trên Sổ Cái.
Chứng từ ghi sổ do kế toán lập trên cơ sở từng chứng từ kế toán hoặc Bảng Tổng hợp chứng từ kế toán cùng loại, có cùng nội dung kinh tế.
Chứng từ ghi sổ được đánh số hiệu liên tục trong từng tháng hoặc cả năm (theo số thứ tự trong Sổ Đăng ký Chứng từ ghi sổ) và có chứng từ kế toán đính kèm, phải được kế toán trưởng duyệt trước khi ghi sổ kế toán.
Hình thức kế toán Chứng từ ghi sổ gồm có các loại sổ kế toán sau:
+ Chứng từ ghi sổ;
+ Sổ Đăng ký Chứng từ ghi sổ;
+ Sổ Cái;
+ Các Sổ, Thẻ kế toán chi tiết.
2/ Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức kế toán Chứng từ ghi sổ (Biểu số 03)
(1) Hàng ngày, căn cứ vào các chứng từ kế toán hoặc Bảng Tổng hợp chứng từ kế toán cùng loại đã được kiểm tra, được dùng làm căn cứ ghi sổ, kế toán lập Chứng từ ghi sổ. Căn cứ vào Chứng từ ghi sổ để ghi vào sổ Đăng ký Chứng từ ghi sổ, sau đó được dùng để ghi vào Sổ Cái. Các chứng từ kế toán sau khi làm căn cứ lập Chứng từ ghi sổ được dùng để ghi vào Sổ, Thẻ kế toán chi tiết có liên quan.
2) Cuối tháng, phải khoá sổ tính ra tổng số tiền của các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh trong tháng trên sổ Đăng ký Chứng từ ghi sổ, tính ra Tổng số phát sinh Nợ, Tổng số phát sinh Có và Số dư của từng tài khoản trên Sổ Cái. Căn cứ vào Sổ Cái lập Bảng Cân đối số phỏt sinh.
(3) Sau khi đối chiếu khớp đúng, số liệu ghi trên Sổ Cái và Bảng tổng hợp chi tiết (được lập từ các sổ, thẻ kế toán chi tiết) được dùng để lập Báo cáo tài chính.
Quan hệ đối chiếu, kiểm tra phải đảm bảo Tổng số phát sinh Nợ và Tổng số phát sinh Có của tất cả các tài khoản trên Bảng Cân đối số phỏt sinh phải bằng nhau và bằng Tổng số tiền phát sinh trên sổ Đăng ký Chứng từ ghi sổ. Tổng số dư Nợ và Tổng số dư Có của các tài khoản trên Bảng Cân đối số phỏt sinh phải bằng nhau, và số dư của từng tài khoản trên Bảng Cân đối số phỏt sinh phải bằng số dư của từng tài khoản tương ứng trên Bảng tổng hợp chi tiết.
Sổ sách kế toán theo Hình thức kế toán Nhật ký- Sổ cái
1. Đặc trưng cơ bản của hình thức kế toán Nhật ký - Sổ Cái:
Đặc trưng cơ bản của hình thức kế toán Nhật ký - Sổ Cái: Các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh được kết hợp ghi chép theo trình tự thời gian và theo nội dung kinh tế (theo tài khoản kế toán) trên cùng một quyển sổ kế toán tổng hợp duy nhất là sổ Nhật ký - Sổ Cái. Căn cứ để ghi vào sổ Nhật ký - Sổ Cái là các chứng từ kế toán hoặc Bảng tổng hợp chứng từ kế toán cùng loại.
Hình thức kế toán Nhật ký - Sổ Cái gồm có các loại sổ kế toán sau:
+ Nhật ký - Sổ Cái;
+ Các Sổ, Thẻ kế toán chi tiết.
2. Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức kế toán Nhật ký - Sổ Cái (Biểu số 02)
(1) Hàng ngày,
Kế toán căn cứ vào các chứng từ kế toán hoặc Bảng tổng hợp chứng từ kế toán cùng loại đã được kiểm tra và được dùng làm căn cứ ghi sổ, trước hết xác định tài khoản ghi Nợ, tài khoản ghi Có để ghi vào Sổ Nhật ký – Sổ Cái. Số liệu của mỗi chứng từ (hoặc Bảng tổng hợp chứng từ kế toán cùng loại) được ghi trên một dòng ở cả 2 phần Nhật ký và phần Sổ Cái. Bảng tổng hợp chứng từ kế toán được lập cho những chứng từ cùng loại (Phiếu thu, phiếu chi, phiếu xuất, phiếu nhập,…) phát sinh nhiều lần trong một ngày hoặc định kỳ 1 đến 3 ngày.
Chứng từ kế toán và Bảng tổng hợp chứng từ kế toán cùng loại sau khi đã ghi Sổ Nhật ký - Sổ Cái, được dùng để ghi vào Sổ, Thẻ kế toán chi tiết có liên quan.
(2) Cuối tháng,
Sau khi đã phản ánh toàn bộ chứng từ kế toán phát sinh trong tháng vào Sổ Nhật ký - Sổ Cái và các sổ, thẻ kế toán chi tiết, kế toán tiến hành cộng số liệu của cột số phát sinh ở phần Nhật ký và các cột Nợ, cột Có của từng tài khoản ở phần Sổ Cái để ghi vào dòng cộng phát sinh cuối tháng. Căn cứ vào số phát sinh các tháng trước và số phát sinh tháng này tính ra số phát sinh luỹ kế từ đầu quý đến cuối tháng này. Căn cứ vào số dư đầu tháng (đầu quý) và số phát sinh
trong tháng kế toán tính ra số dư cuối tháng (cuối quý) của từng tài khoản trên Nhật ký - Sổ Cái.
(3) Khi kiểm tra, đối chiếu số cộng cuối tháng (cuối quý) trong Sổ Nhật ký - Sổ Cái phải đảm bảo các yêu cầu sau:
Tổng số tiền của cột phát sinh ở Nhật ký= Tổng số phát sinh Nợ của tất cả các Tài khoản= Tổng số phát sinh Có của tất cả các Tài khoản.
Tổng số dư Nợ các Tài khoản= Tổng số dư Có các Tài khoản
(4) Các sổ, thẻ kế toán chi tiết
Các sổ, thẻ kế toán chi tiết cũng phải được khoá sổ để cộng số phát sinh Nợ, số phát sinh Có và tính ra số dư cuối tháng của từng đối tượng. Căn cứ vào số liệu khoá sổ của các đối tượng lập “Bảng tổng hợp chi tiết" cho từng tài khoản. Số liệu trên “Bảng tổng hợp chi tiết” được đối chiếu với số phát sinh Nợ, số phát sinh Có và Số dư cuối tháng của từng tài khoản trên Sổ Nhật ký - Sổ Cái và trên “Bảng tổng hợp chi tiết” sau khi khóa sổ được kiểm tra, đối chiếu nếu khớp, đúng sẽ được sử dụng để lập báo cáo tài chính.
Sổ sách kế toán theo Hình thức kế toán Nhật ký chung
1. Nguyên tắc, đặc trưng cơ bản của hình thức kế toán Nhật ký chung:
Đặc trưng cơ bản của hình thức kế toán Nhật ký chung: Tất cả các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh đều phải được ghi vào sổ Nhật ký, mà trọng tâm là sổ Nhật ký chung, theo trình tự thời gian phát sinh và theo nội dung kinh tế (định khoản kế toán) của nghiệp vụ đó. Sau đó lấy số liệu trên các sổ Nhật ký để ghi Sổ Cái theo từng nghiệp vụ phát sinh.
Hình thức kế toán Nhật ký chung gồm các loại sổ chủ yếu sau:
+ Sổ Nhật ký chung, Sổ Nhật ký đặc biệt;
+ Sổ Cái;
+ Các sổ, thẻ kế toán chi tiết.
2. Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức kế toán Nhật ký chung (Biểu số 01)
(1) Hàng ngày:
Căn cứ vào các chứng từ đã kiểm tra được dùng làm căn cứ ghi sổ, trước hết ghi nghiệp vụ phát sinh vào sổ Nhật ký chung, sau đó căn cứ số liệu đã ghi trên sổ Nhật ký chung để ghi vào Sổ Cái theo các tài khoản kế toán phù hợp. Nếu đơn vị có mở sổ, thẻ kế toán chi tiết thì đồng thời với việc ghi sổ Nhật ký chung, các nghiệp vụ phát sinh được ghi vào các sổ, thẻ kế toán chi tiết liên quan.
Trường hợp đơn vị mở các sổ Nhật ký đặc biệt thì hàng ngày, căn cứ vào các chứng từ được dùng làm căn cứ ghi sổ, ghi nghiệp vụ phát sinh vào sổ Nhật ký đặc biệt liên quan. Định kỳ (3, 5, 10... ngày) hoặc cuối tháng, khối lượng nghiệp vụ phát sinh, tổng hợp từng sổ Nhật ký đặc biệt, lấy số liệu để ghi vào các tài khoản phù hợp trên Sổ Cái, sau khi đã loại trừ số trùng lặp do một nghiệp vụ được ghi đồng thời vào nhiều sổ Nhật ký đặc biệt (nếu có).
(2) Cuối tháng, cuối quý, cuối năm, cộng số liệu trên Sổ Cái, lập Bảng cân đối số phát sinh.
Sau khi đã kiểm tra đối chiếu khớp đúng, số liệu ghi trên Sổ Cái và bảng tổng hợp chi tiết (đ
được lập từ các Sổ, thẻ kế toán chi tiết) được dùng để lập các Báo cáo tài chính.
Về nguyên tắc, Tổng số phát sinh Nợ và Tổng số phát sinh Có trên Bảng cân đối số phát sinh phải bằng Tổng số phát sinh Nợ và Tổng số phát sinh Có trên sổ Nhật ký chung (hoặc sổ Nhật ký chung và các sổ Nhật ký đặc biệt sau khi đã loại trừ số trùng lặp trên các sổ Nhật ký đặc biệt) cùng kỳ.
Đọc nhanh Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Báo cáo kết quả kinh doanh có 2 phần, phần I_ Lãi, lỗ là phần các công ty đại chúng công bố cho các nhà đầu tư.
Công thức chung của phần này là Lợi nhuận = Doanh thu – Chi phí.
Kết cấu Báo cáo kết quả kinh doanh Phần Lãi, lỗ chia hoạt động một doanh nghiệp thành 3 loại: hoạt động sản xuất kinh doanh chính, hoạt động về tài chính và hoạt động khác (không thường xuyên).
Hoạt động sản xuất kinh doanh chính thể hiện qua 3 chỉ tiêu chính: Doanh thu (thuần) bán hàng và cung cấp dịch vụ, Giá vốn hàng bán và Lợi nhuận gộp từ hoạt động bán hàng.
Lợi nhuận gộp từ bán hàng = Doanh thu thuần bán hàng – Giá vốn hàng bán.
Chỉ tiêu này cho biết hoạt động sản xuất kinh doanh chính mang về bao nhiêu tiền. Lợi nhuận gộp tăng có thể do doanh thu thuần tăng hoặc giá vốn hàng bán giảm.
1
Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
2
Các khoản giảm trừ doanh thu
3
Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ
(1) -(2)
4
Giá vốn hàng bán và dịch vụ cung cấp
5
Lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ
(3) -(4)
Hoạt động tài chính: thể hiện qua 2 chỉ tiêu: Doanh thu tài chính và Chi phí tài chính
Doanh thu tài chính có từ các nguồn: như lãi tiền gửi, lãi nhận từ việc đầu tư, mua bán trái phiếu, cổ phiếu,…
Chi phí tài chính: Gồm có chi phí lãi vay, chi phí dự phòng các khoản đầu tư tài chính, lỗ từ
đầu tư tài chính, lỗ do chênh lệch tỷ giá,…
1
Lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ
2
Doanh thu tài chính
3
Chi phí tài chính
4
Chi phí bán hàng
5
Chi phí quản lý doanh nghiệp
6
Lợi nhuận thuần từ kinh doanh
(6) = (1) + (2) - (3) - (4) - (5)
1
Lợi nhuận thuần từ kinh doanh
2
Thu nhập khác
3
Chi phí khác
4
Lợi nhuân từ hoạt động khác
(4)= (2) - (3)
5
Lợi nhuận trước thuế
(5) = (1) + (4)
Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh là chỉ tiêu thế hiện kết quả nhận được từ hai hoạt động bán hàng và tài chính, sau khi trừ đi Chi phí bán hàng và Chi phí quản lý doanh nghiệp.
Lợi nhuận thuần từ kinh doanh = Lợi nhuận gộp từ bán hàng + (Doanh thu tài chính – Chi phí tài chính) – Chi phí bán hàng – Chi phí quản lý doanh nghiệp.
Hoạt động khác: thể hiện qua hai chỉ tiêu Thu nhập khác và Chi phí khác.
Thu nhập khác có nguồn từ: lãi thanh lý, nhượng bán tài sản, hoặc là được bồi thường… và ngược lại Chi phí khác có nguồn từ lỗ thanh lý, nhượng bán tài sản, phải bồi thường do vi phạm hợp đồng,…
Lợi nhuận trước thuế = Lợi nhuận thuần từ kinh doanh + (Doanh thu khác – Chi phí khác).
Lợi nhuận sau thuế = Lợi nhuận trước thuế - Chi phí thuế thu nhập hiện hành phải nộp
Phân tích báo cáo kết quả kinh doanh trong 1 kỳ cho ta thấy hoạt động nào đóng góp nhiều nhất vào lợi nhuận của doanh nghiệp. Thông thường hoạt động chính phải đóng góp lớn nhất.
Khi so sánh với các kỳ trước đó, ta có thể thấy biến động tăng hay giảm của từng hoạt động. Thông thường hoạt động sản xuất kinh doanh chính tăng là tốt.
Đọc nhanh Bảng Cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán kết cầu làm hai phần chính: Tài Sản và Nguồn vốn.
Nguyên tắc Tổng tài sản = Tổng Nguồn vốn.
Chỉ tiêu Tổng tài sản cho biết quy mô của doanh nghiệp, khi chỉ tiêu này giảm cần xem xét đến khả năng giảm quy mô sản xuất kinh doanh.
Bên Tài sản chia thành Tài sản ngắn hạn và Tài sản dài hạn, xếp theo thứ tự tính lỏng (khả năng chuyển đổi thành tiền mặt dễ dàng) giảm dần.
Các tài sản cho biết doanh nghiệp đã dùng vốn vào các tài sản gì. Đối với doanh nghiệp sản xuất thông thường thì tài sản dài hạn lớn hơn tài sản ngắn hạn, và ngược lại với các doanh nghiệp thương mại.
Bên nguồn vốn chia thành: Vốn chủ sở hữu và Các khoản nợ phải trả.
Số cuối kỳ
Số đầu năm
TÀI SẢN NGẮN HẠN
Tiền và các khoản tương đương tiền
Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn
Các khoản phải thu ngắn hạn
Hàng tồn kho
Tài sản ngắn hạn khác
TÀI SẢN DÀI HẠN
Các khoản phải thu dài hạn
Tài sản cố định
Bất động sản đầu tư
Các khoản đầu tư tài chính dài hạn
Lợi thế thương mại
Tài sản dài hạn khác
TỔNG CỘNG TÀI SẢN
NỢ PHẢI TRẢ
Nợ ngắn hạn
Nợ dài hạn
NGUỒN VỐN CHỦ SỞ HỮU
Vốn chủ sở hữu
Nguồn kinh phí và quỹ khác
TỔNG CỘNG NGUỒN VỐN
Các khoản nợ phải trả bao gồm: ngắn hạn và dài hạn, hình thành từ: Vay ngân hàng, phải trả người bán,…
Vốn chủ sở hữu gồm các nguồn: Vốn đầu tư ban đầu của chủ sở hữu, thặng dư vốn cổ phần, các quỹ,…
Mỗi chỉ tiêu trên Bảng cân đối kế toán số liệu phản ánh tại hai thời điểm Đầu năm và cuối kỳ. Qua đó ta đánh giá được các tài sản và nguồn vốn biến động tăng hay giảm trong kỳ.
Phân tích các hệ số tài chính khi đọc Báo cáo tài chính
Hệ số Nợ = Các khoản nợ phải trả/ Tổng nguồn vốn.
Hệ số này cho ta biết mức độ tự chủ của doanh nghiệp về nguồn vốn. Trong thời kỳ lãi suất ngân hàng cao, nếu hệ số này cao mà do vay nợ từ ngân hàng, thì là điều bất lợi cho doanh nghiệp.
Khả năng thanh toán ngắn hạn = Tài sản ngắn hạn/ Nợ ngắn hạn.
Khả năng thanh toán nhanh = Tổng tài sản ngắn hạn – Hàng tồn kho/ Nợ ngắn hạn
Khi kết hợp với Báo cáo kết quả kinh doanh, ta có thể tính toán được hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp thông qua.
Hiệu quả sử dụng tổng nguồn vốn (ROA) = Lợi nhuận sau thuế/ Tổng tài sản.
Hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu (ROE) = Lợi nhuận sau thuế / Vốn chủ sở hữu.
Khi hệ số Nợ cao sẽ khuếch đại ROE. So sánh hai chỉ tiêu này với các kỳ trước hoặc so sánh với các doanh nghiệp cùng ngành, có thể thấy hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp tăng hay giảm,…
Khi xem xét Bảng cân đối kế toán và Báo cáo kết quả kinh doanh cũng cần phải quan tâm đến Báo cáo lưu chuyển tiền tệ.
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ cho bạn biết bạn có bao nhiêu tiền vào đầu kỳ và còn lại bao nhiêu vào cuối kỳ. Nó mô tả công ty đã thu và chi bao nhiêu tiền trong một khoảng thời gian cụ thể. Việc sử dụng tiền được ghi thành số âm, và nguồn tiền được ghi thành số dương.
Chỉ tiêu “tiền tồn cuối kỳ” trên Báo cáo lưu chuyển tiền tệ bằng chỉ tiêu "tiền" trong khoản mục “tiền và tương đương tiền” trên Bảng cân đối kế toán.
Thực tế, nhiều doanh nghiệp có kết quả kinh doanh trong kỳ là lãi nhưng luồng tiền thì lại âm
Vì báo cáo lưu chuyển tiền tệ không thực hiện những phép tính như báo cáo thu nhập. Nếu không có giao dịch bằng tiền, thì hoạt động giao dịch đó sẽ không được phản ánh trong báo cáo lưu chuyển tiền tệ.
Doanh nghiệp có thể ghi nhận doanh thu bán hàng dù rằng phía mua hàng chưa thanh toán tiền, lợi nhuận trong thời kỳ tài chính tăng lệ tương ứng.
Tuy nhiên nếu sản phẩm bán ra chưa được thanh toán cho đến kỳ kế toán tiếp theo, nó sẽ được ghi vào khoản phải thu, làm giảm dòng tiền.
Khi luồng tiền âm, có nghĩa là doanh nghiệp phải đi vay mới có tiền để thực hiện các nghĩa vụ nợ, mua sắm tài sản, đầu tư,…
Tiền tồn cuối kỳ = Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh + Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động tài chính + Lưu chuyền tiền thuần từ hoạt động đầu tư + Tiền và tương đương tiền đầu kỳ.
Tính cân đối của Bảng cân đối kế toán
hái niệm: Bảng cân đối kế toán là một bảng báo cáo tài chính tổng hợp dùng để khái quát toàn bộ tài sản và nguồn hình thành tài sản đó tại một thời điểm nhất định.
Đặc điểm:
- Các chỉ tiêu được biểu hiện dưới hình thái giá trị (tiền) nên có thể tổng hợp được toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp đang tồn tại dưới các hình thái (cả vật chất và tiền tệ, cả vô hình lẫn hữu hình) .
- BCĐKT được chia thành 2 phần theo 2 cách phản ánh tài sản là cấu thành tài sản và nguồn hình thành nên tài sản. Do vậy, số tổng cộng của 2 phần luôn bằng nhau.
- BCĐKT phản ánh vốn và nguồn vốn tại một thời điểm nhất định. Thời điểm đó thường là ngày cuối cùng của kỳ hạch toán. Chúng ta có thể xem kết cấu khái quát của bảng cân đối kế toán theo mẫu dưới đây:
Phần tài sản
Nội dung
Loại A
Số dư nợ tài khoản loại 1 và loại 3
Loại B
Số dư nợ tài khoản loại 2 ( nếu dư có ghi âm )
Tổng cộng tài sản
Cộng loại A và B
Phần nguồn vốn
Loại A
Số dư có tài khoản loại 3 và loại 1
Loại B
Số dư tài khoản loại 4 ( nếu dư nợ ghi âm )
Tổng cộng nguồn vốn
Cộng loại A và B
Chỉ tiêu ngoài bảng
Tác dụng:
- Thấy được toàn bộ giá trị tài sản hiện có, hình thái vật chất của tài sản, nguồn hình thành tài sản đó.
- Đánh giá khái quát tình hình tài chính, sự biến động tăng giảm của nguồn vốn chủ sở hữu
Nội dung và kết cấu:
Xuất phát từ yêu cầu biểu hiện hai mặt khác nhau của tài sản trong doanh nghiệp: Tài sản gồm những gì và tài sản do đâu mà có nên kết cấu của bảng được xây dựng theo 2 bên hoặc hai phần:
A. PHẦN TÀI SẢN: Phản ánh giá trị tài sản hiện có tại thời điểm lập báo cáo của tất cả đối tượng thuộc nhóm tài sản (theo tính lưu động giảm dần). Phần tài sản được chia làm 2 loại lớn:
- Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn.
- Tài sản cố định và đầu tư dài hạn.
B. PHẦN NGUỒN VỐN: Phản ánh giá trị tài sản hiện có tại thời điểm lập báo cáo của tất cả đối tượng thuộc nhóm nguồn vốn theo thời hạn thanh toán tăng dần. Phần nguồn vốn được chia làm 2 loại lớn:
- Nợ phải trả
- Nguồn vốn chủ sở hữu
Trong từng loại còn chia thành nhiều mục, nhiều khoản để phản ánh chi tiết theo yêu cầu quản lý chung theo những quy định và sắp xếp thống nhất.
Hai bên của bảng phản ánh hai mặt khác nhau tài sản trong doanh nghiệp nên giữa chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau. Xét về mặt lượng thì bao giờ cũng có:
Tài sản
=
Nguồn vốn
Tổng tài sản
=
Nợ phải trả + Nguồn vốn chủ sở hữu
Tính bằng nhau biểu hiện tính cân đối. Tính cân đối là tính chất cơ bản của Bảng Cân Đối Kế Toán.
VD: Phân biệt tài sản và nguồn vốn cho một cho một doanh nghiệp theo các thông tin sau (Lập bảng cân đối kế toán):
-Tiền mặt tại quỹ
30.000.000
-NVL trong kho trị giá
100.000.000
Hình thành từ: nhà nước cấp
70.000.000
Vay ngắn hạn ngân hàng
30.000.000
- Máy móc thiết bị trị giá
500.000.000
Nhà nước cấp
100.000.000
Vốn của các thành viên góp
300.000.000
Vay dài hạn
100.000.000
Xét tính cân đối của bảng:
Khái niệm: Nghiệp vụ kinh tế phát sinh là sự kiện làm biến động tài sản, nguồn vốn trong doanh nghiệp. Điều kiện đề là nghiệp vụ kinh tế: Liên quan đến ít nhất hai đối tượng kế toán và phải có giá trị cụ thể.
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, các loại tài sản và nguồn vốn luôn biến động (tăng lên hoặc giảm xuống) do tác động của các nghiệp vụ kinh tế. Vậy sự biến động của tài sản và nguồn vốn có làm phá vỡ tính chất cân đối của bảng cân đối kế toán?
Tài sản
SDĐK
Nguồn vốn
SDĐK
A.TSLĐ&ĐTNH
165.000.000
A.NỢ PHẢI TRẢ
75.000.000
Tiền mặt
20.000.000
Vay ngắn hạn
30.000.000
Tiền gửi ngân hàng
35.000.000
Phải trả người bán
35.000.000
Nguyên vật liệu
50.000.000
Phải nộp nhà nước
10.000.000
Công cụ dụng cụ
10.000.000
Thành phẩm
50.000.000
B.TSCĐ&ĐTDH
70.000.000
B. NGUỒN VỐN CSH
160.000.000
TSCĐ hữu hình
100.000.000
Vốn kinh doanh
140.000.000
Hao mòn TSCĐHH
(30.000.000)
Quỹ
20.000.000
TổngTài sản
235.000.000
Tổng Nguồn vốn
235.000.000
Mặc dù các nghiệp vụ kinh tế đa dạng nhưng nói chung ảnh hưởng của chúng lên tài sản và nguồn vốn làm thay đổi bảng không ngoài 4 trường hợp sau:
Trường hợp 1: Liên quan 2 khoản mục một bên Tài sản: khoản mục này tăng, khoản mục kia thì giảm.
Vd: Rút tiền gửi ngân hàng 5.000.000đ nhập quỹ tiền mặt.
Phân tích: Tiền gửi ngân hàng giảm 5.000.000đ
Tiền mặt tăng 5.000.000đ
Trường hợp 2: Liên quan 2 khoản mục một bên Nguồn vốn: khoản mục này tăng, khoản mục kia thì giảm.
Vd: DN vay ngắn hạn 10.000.000đ trả nợ cho người bán.
Phân tích: Vay ngắn hạn tăng: 10.000.000đ
Phải trả người bán giảm: 10.000.000đ
Trường hợp 3: Liên quan khoản mục hai bên bảng: các khoản mục này cùng tăng.
Vd: Mua nguyên liệu nhập kho chưa trả tiền người bán 20.000.000đ.
Phân tích: Nguyên liệu tăng: 20.000.000đ
Phải trả người bán tăng: 20.000.000đ
Trường hợp 4: Liên quan khoản mục hai bên bảng: các khoản mục này cùng giảm.
Vd: DN sử dụng tiền gửi ngân hàng trả nợ vay ngắn hạn ngân hàng 10.000.000đ.
Phân tích: Tiền gửi ngân hàng giảm: 10.000.000trđ.
Vay ngắn hạn giảm: 10.000.000trđ.
Nhận xét chung:
- Mỗi nghiệp vụ kinh tế (NVKT) phát sinh liên quan ít nhất 2 khoản mục trên bảng CĐKT
- Nếu NVKT phát sinh chỉ ảnh hưởng đến những khoản mục ở một bên của bảng CĐKT thì số tổng cộng ở phần tài sản và phần nguồn vốn vẫn không thay đổi (Nvụ 1 & 2).
- Nếu NVKT phát sinh đồng thời ảnh hưởng đến những cả hai phần của bảng CĐKT thì số tổng cộng ở 2 phần thay đổi, cùng tăng hoặc cùng giảm (Nvụ 3 & 4).
- Trong mọi trường hợp khi có NVKT phát sinh, tính chất cân đối của bảng không bị phá vỡ nghĩa là: TỔNG CỘNG TÀI SẢN = TỔNG CỘNG NGUỒN VỐN
Lợi thế thương mại – những vấn đề cần làm rõ
Theo VAS số 04 – Tài sản cố định (TSCĐ) vô hình thì lợi thế thương mại (LTTM) là “Nguồn lực vô hình doanh nghiệp (DN) có được thông qua việc sáp nhập DN có tính chất mua lại được ghi nhận là LTTM vào ngày phát sinh nghiệp vụ mua” (đoạn 08); Đồng thời, cũng quy định 03 có đặc điểm của tài sản đó tính xác định được, quyền kiểm soát và có thể thu được lợi ích kinh tế trong tương lai. Cụ thể: “LTTM phát sinh từ việc sáp nhập DN có tính chất mua lại được thể hiện bằng một khoản thanh toán do bên đi mua tài sản thực hiện để có thể thu được lợi nhuận trong tương lai” (đoạn 09); “DN nắm quyền kiểm soát một tài sản nếu DN có quyền thu lợi ích kinh tế trong tương lai mà tài sản đó đem lại, đồng thời có khả năng hạn chế sự tiếp cận của các đối tượng khác đối với lợi ích đó. Khả năng kiểm soát của DN đối với lợi ích ích kinh tế trong tương lai từ TSCĐ vô hình, thông thường có nguồn gốc từ quyền pháp lý” (đoạn 11); “lợi ích kinh tế trong tương lai bao gồm: tăng doanh thu, tiết kiệm chi phí, hoặc lợi ích khác xuất phát từ việc sử dụng TSCĐ vô hình” (đoạn 15)...
Xuất phát từ cách ghi nhận và đặc điểm của tài sản đoạn 32 quy định “Chi phí phát sinh để tạo ra lợi ích kinh tế trong tương lai nhưng không hình thành TSCĐ vô hình vì không đáp ứng được định nghĩa và tiêu chuẩn ghi nhận trong chuẩn mực này, mà tạo ra LTTM từ nội bộ DN. LTTM được tạo ra từ nội bộ DN không được ghi nhận là tài sản vì nó không phải là nguồn lực có thể xác định được, không được đánh giá một cách đáng tin cậy và DN không kiểm soát được”
Từ quy định của VAS 04 ta thấy rằng LTTM có nguồn hình thành là do quá trình sáp nhập DN và được tạo ra từ nội bộ DN nhưng không được ghi nhận là tài sản trên Báo cáo tài chính. Đồng thời VAS 04 cũng không quy định các ghi nhận và xử lý LTTM như thế nào.
Cũng quy định về vấn đề này, VAS số 11 – Hợp nhất kinh doanh cho rằng “LTTM là những lợi ích kinh tế trong tương lai phát sinh từ các Tài sản không xác định được và không ghi nhận được một cách riêng biệt”. Và theo đoạn 50 “tại ngày mua bên mua sẽ ghi nhận LTTM phát sinh khi hợp nhất kinh doanh là tài sản; và xác định giá trị ban đầu cả LTTM theo giá gốc, là phần chênh lệch của giá phí hợp nhất so với phần sở hữu của bên mua trong giá trị hợp lý thuần của tài sản, nợ phải trả có thể xác định được và các khoản nợ tiềm tàng”. Điều này thể hiện LTTM được phát sinh trong quá trình hợp nhất kinh doanh thể hiện khoản thanh toán của bên
mua cho những lợi ích kinh tế thu được trong tương lai từ những tài sản không đủ tiêu chuẩn ghi nhận và không xác định được một cách riêng biệt. VAS 11 cũng quy định cách ghi nhận và xử lý LTTM như sau (đoạn 53) “LTTM được ghi ngay vào chi phí sản xuất kinh doanh (nếu giá trị nhỏ) hoặc phải phân bổ dần một cách có hệ thống trong suốt thời gian sở hữu hữu ích ước tính (nếu giá trị lớn). thời gian sử dụng hữu ích phải phản ánh được ước tính đúng đắn về thời gian thu hồi lợi ích kinh tế có thể mang lại cho DN. Thời gian sử dụng hữu ịch của LTTM tối đa không quá 10 năm kể từ ngày được ghi nhận”
Từ những dẫn chứng nêu trên ta có mấy vấn đề cần trao đổi sau:
Thứ nhất, LTTM phát sinh trong quá trình đầu tư (khi đầu tư vào công ty liên kết, liên doanh, khi đầu tư vào công ty con) và có thể minh họa như sơ đồ sau:

Theo minh họa của sơ đồ thì bên Đầu tư đầu tư vào bên nhận đầu tư và xảy ra các trường hợp chênh lệch giữa giá phí đầu tư và tài sản thuần (Tổng tài sản – Nợ phải trả) tính theo giá trị hợp lý thì có thể có LTM hoặc LTTM âm hoặc không phát sinh LTTM.
Thứ hai, cách thức xác định Lợi thế thương mại. LTTM có thể được tính toán và xác định theo
02 cách sau
Cách 1:
Xác định phần chênh lệch giữa giá hợp nhất kinh doanh và giá trị tài sản thuần theo giá trị ghi sổ (Δ1) = Giá phí HNKD / Khoản đầu tư - (%sở hữu) x Giá trị tài sản thuần của bên bị mua theo giá trị ghi sổ
Sau đấu xác định phần chênh lệch giữa giá trị ghi sổ và giá trị hợp lý của Tài sản thuần
Chênh lệch giữa giá trị ghi sổ và giá trị hợp lý của tài sản thuần (Δ2) = (%sở hữu) x [Giá trị Tài sản thuần theo giá trị hợp lý - Giá trị Tài sản thuần theo giá trị ghi sổ]
LTTM = Δ1 - Δ2
Cách 2:
LTTM = giá phí hợp nhất kinh doanh – (%sở hữu) x giá trị tài sản thuần theo giá trị hợp lý
Thứ ba, thời gian khấu hoa của LTTM dương: Căn cứ vào quy định hiện hành – 10 năm. Trường hợp phát sinh LTTM âm thì “bên mua phải xem xét lại giá trị hợp lý của Tái sản, nợ phải trả có thể xác định được, nợ tiềm tàng và xác định giá phí hợp nhất kinh doanh – nếu sau khi xem xét, điều chỉnh mà vẫn còn chênh lệch thì ghi nhận ngay vào lãi hoặc lỗ tất cả các khoản chênh lệch vẫn còn sau kha đánh giá lại”. Điều này có nghĩa là theo ví dụ Lập BCTC HN và ví dụ xác định các khoản lợi nhuận hoặc lỗ trong công ty liên doanh, liên kết của VAS 25 và thông tư 23/2005/TT-BTC thì nếu phát sinh LTTM (cả LTTM âm và LTTM dương thì sẽ được phân bổ hàng năm, còn theo VAS 11 và Thông tư 21/2006/TT-BTC thì nếu phát sinh LTTM dương sẽ được phân bổ hàng năm nhưng nếu phát sinh LTTM âm sẽ ghi nhận toàn bộ vào Thu nhập khác hoặc chi phí khác sau khi xem xét lại (đưa vào TK 711 hoặc 811). Bên cạnh đó mặc dù theo VAS 11 quy định thời gian khấu hao LTTM dương tối đa là 10 năm, tuy nhiên trong ví dụ minh họa tại Thông tư 23/2005/TT-BTC về LTTM phát sinh khi đầu tư vào công ty liên kết
thì thời gian khấu hao lại là 20 năm. Do đó cần thiết phải quy định cách thức xác định LTTM cũng như phương pháp khấu hao LTTM cụ thể đối với cả trường hợp phát sinh LTTM mà không hình thành mối quan hệ công ty mẹ - công ty con.
Thứ tư, phương pháp hạch toán khoản LTTM theo quy định của VAS 11
- Tại ngày mua nếu phát sinh LTTM, kế toán bên mua hoạch toán như sau:
+ Nếu việc mua bán, hợp nhất kinh doanh được bên mua thanh toán bằng tiền hoặc các khoản tương đương tiên:
Nợ TK 21 – nếu hình thành quan hệ công ty mẹ - công ty con hoặc nợ TK 152, 153, 156, 211, 213, 217, 131, 138...
Nợ TK 242 – LTTM có TK 111, 112, 121
+ Nếu việc mua bán, hợp nhất kinh doanh được thực hiện bằng việc bên mua phát hành cổ phiếu:
Nợ TK 221 – nếu hình thành quan hệ công ty mẹ - công ty con hoặc Nợ TK 152, 153, 156, 211, 213, 217, 131,138...
Nợ TK 242 – LTTM
Nợ TK 4112 – thặng dư vốn cổ phần (nếu giá phát hành < mệnh giá)
Có TK 4111 – vốn đầu tư của chủ sở hữu (theo mệnh giá) hoặc Có TK 4112 – thặng dư vốn cổ phần (nếu giá phát hành mệnh giá)
Chi phí cổ phiếu thực tế phát sinh:
Nợ TK 4112 / Có TK 111, 112
+ Nếu việc mua bán, hợp nhất kinh doanh được thanh toán bằng trái phiếu
Nợ TK 221 - nếu hình thành quan hệ công ty mẹ - công ty con hoặc Nợ TK 152, 153, 156,
211, 213, 217, 131, 138...
Nợ TK 242 – Lợi thế TM
Nợ TK 3432 – chiết khấu trái phiếu (nếu giá phát hành < mệnh giá trái phiếu)
Có TK 3431 – mệnh giá trái phiếu
Hoặc Có TK 3433 – phụ trội trái phiếu (nếu giá phát hành mệnh giá trái phiếu).
+ Nếu việc mua bán hợp nhất kinh doanh được thanh toán bằng tài sản là vật tư, hàng hóa:
Nợ TK 221 - nếu hình thành quan hệ công ty mẹ - công ty con hoặc Nợ TK152, 153, 156, 211, 213, 217...
Nợ TK 242 – LTTM
Có TK 511 – doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
Có TK 3331 – thuế GTGT phải nộp
Đồng thời: Nợ TK 632 / Có TK 155, 156...
+ Nếu việc mua bán, hợp nhất kinh doanh được thanh toán bằng TSCĐ:
Nợ TK 221 - nếu hình thành quan hệ công ty mẹ - công ty con hoặc Nợ TK 152, 153, 156, 211, 213, 217, 131, 138...
Nợ TK 242, Nợ TK 214 có TK 211
Đồng thơi: Nợ TK 111, 112, 131... Có TK 711 - giá trị hợp lý của TSCĐ
Có TK 3331 – thuế GTGT phải nộp
+ Định kỳ phân bổ LTTM: Nợ TK 642 / Có TK 242
Tại ngày mua, nếu phát sinh LTTM âm (bất lợi thương mại), kế toán bên mua hạch toán theo từng trường hợp sau:
+Nếu việc mua bán, hợp nhất kinh doanh được mua bên thành toán bằng tiền mặt hoặc các khoản tương đương tiền:
Nợ TK 221 – nếu hình thành quan hệ công ty mẹ - công ty con hoặc Nợ TK 152, 153, 156, 211, 213, 217, 131, 138...
Nợ TK 811 – phần chênh lệch lỗ lãi sau khi đánh giá lại
Có TK 111, 112, 121
Có TK 711 – phần chênh lệch lãi sau khi đánh giá lại
+ Nếu việc mua bán, hợp nhất kinh doanh được thực hiện bằng việc bên mua phát hành cổ phiếu:
Nợ TK 221 - nếu hình thành quan hệ công ty mẹ - công ty con hoặc Nợ TK 152, 153, 156, 211, 213, 217, 131, 138...
Nợ TK 811 – chênh lệch lỗ lãi sau khi đánh giá lại
Nợ TK 4112 – thặng dư vốn cổ phần (nếu giá phát hành < mệnh giá)
Có TK 4111 – Vốn đầu tư của Chủ sở hữu (theo mệnh giá)
hoặc Có TK 4112 – thặng dư vốn cổ phần (nếu giá phát hành mệnh giá)
hoặc Có TK 711 – phần chênh lệch lãi sau khi đánh giá lại
Chi phí cổ phiếu thực tế phát sinh:
Nợ TK 4112 / Có YK 111, 112
+ Nếu việc mua bán hợp nhất kinh doanh được thanh toán bằng trái phiếu
Nợ TK 221 - nếu hình thành quan hệ công ty mẹ - công ty con hoặc Nợ TK 152, 153, 156, 211, 213, 217, 131, 138...
Nợ TK 811 – chênh lệch lỗ lái sau khi đánh giá lại
Nợ TK 4343 – chiết khấu trái phiếu (nếu giá phát hành < mệnh giá trái phiếu)
Có TK 3432 – Mệnh giá trái phiếu
hoặc Có TK 3433 – phụ trội trái phiếu (nếu giá phát hành mệnh giá trái phiếu)
hoặc Có TK 711 – phần chênh lệch lãi sau khi đánh giá lại
+ Nếu việc mua bán, hợp nhất kinh doanh được thanh toán – tài sản là vật tư, hoàng hóa:
Nợ TK 221 - nếu hình thành quan hệ công ty mẹ - công ty con hoặc Nợ TK 152, 153, 156, 211, 213, 217, 131, 138...
Nợ TK 811 – chênh lệch lỗ lãi sau khi đánh giá lại
Có TK 511 – doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
Có TK 3331 – Thuế GTGT phải nộp
Hoặc Có TK 711 – phần chênh lệch lãi sau khi đánh giá lại
Đồng thời: Nợ TK 632 / Có TK 155, 156...
+ Nếu việc mua bán, hợp nhất kinh doanh được thanh toán bằng TSCĐ:
Nợ TK 221 - nếu hình thành quan hệ công ty mẹ - công ty con hoặc Nợ TK 152, 153, 156, 211, 213, 217, 131, 138...
Nợ TK 811 – chênh lệch lỗ lãi sau khi đánh giá lại
Nợ TK 214 – hao mòn lũy kế
Có TK 211
Đồng thời:
Nợ TK 111, 112, 131..
Có TK 711 – giá trị hợp lý của TSCĐ
Có TK 3331 – thuế GTGT phải nộp
Có TK 711 – chênh lệch lãi sau khi đánh giá lại
Thứ năm, quá trình đầu tư trải qua nhiều gian đoạn
Hợp nhất kinh doanh thường liên quan tới nhiều giao dịch trao đổi, như khi giao dịch mua cổ phiếu liên tiếp. Khi đó, mỗi giao dịch trao đổi sẽ được bên mua xử lý một cách riêng biệt bằng cách sử dụng giá phí của giao dịch và thông tin về giá trị hợp lý tại ngày diễn ra từng trao đổi giao dịch để xác định giá trị của lợi thế thương mại liên quan đến từng giao dịch đó. Do đó, việc so sánh giá phí của các khoản đầu tư đơn lẻ với lợi ích của bên mua trong giá trị hợp lý tài sản, nợ phải trả có thể xác định được và nợ tiềm tàng của bên bị mua được thực hiện từng bước. Giá trị hợp lý của tài sản, nợ phải trả có thể xác định được và khoản nợ tiềm tàng của bên bị mua có thể chênh lệch tại mỗi ngày diễn ra giao dịch trao đổi.
Kế toán tài chính Các khoản trích lập dự phòng cần lưu ý
Báo cáo thường niên và những điều nên hoàn thiện.
Mục đích của báo cáo thường niên là nhằm giới thiệu cho các nhà đầu tư một cách đầy đủ các hoạt động trọng yếu và tình hình tài chính của doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và nhằm mục đích chính là dự đoán giá cổ phiếu và các yếu tố liên quan như lãi trên mỗi cổ phiếu (EPS) của doanh nghiệp trong tương lai. Bởi vậy việc trình bày báo cáo thường niên cũng như các số liệu tài chính trong quá khứ phải làm sao giúp các nhà đầu tư dễ dự đoán tình hình tài chính và hiệu quả hoạt động của công ty, đặc biệt là EPS tương lai.
Các nhà đầu tư vốn chủ sở hữu kỳ vọng vào cả cổ tức và sự tăng trưởng trong giá trị cổ phiếu mà họ nắm giữ. Các nhà đầu tư có rủi ro là có thể không nhận được những khoản tiền này. Do vậy các nhà đầu tư sử dụng các báo cáo thường niên để: (1) Dự đoán các khoản lãi kỳ vọng của họ và (2) Đánh giá các rủi ro gắn liền với các khoản tiền lãi này.
1. Những điều có thể làm tốt hơn trong các báo cáo thường niên.
Bạn có thể dễ dàng tìm kiếm trên Internet các báo cáo thường niên của các tập đoàn đa quốc gia nổi tiếng thế giới niêm yết trên các thị trường chứng khoán quốc tế tại Mỹ hay Châu Âu như PG.com của tập đoàn P&G (Mỹ), Unilever.com của tập đoàn Unilever (Hà lan và Anh Quốc). Mặc dù ở Việt Nam đã có một số quy định những điều tối thiểu phải trình bày trên báo cáo thường niên cho các công ty niêm yết. Tuy nhiên các công ty có thể làm được nhiều hơn thế để giới thiệu về mình với các nhà đầu tư. Việc trình bày tốt báo cáo thường niên là một công cụ hữu hiệu để giúp các nhà đầu tư hiểu hơn về công ty mình. Khi nhiều nhà đầu tư biết và đánh giá cao về công ty của bạn, có nghĩa là cổ phiếu của công ty bạn được nhà đầu tư đánh giá cao, do vậy nó có thể ảnh hưởng tốt đến giá cổ phiếu của công ty. Bởi vậy bạn có thể tham chiếu các báo cáo thường niên của các tập đoàn nổi tiếng thế giới cho báo cáo thường niên của mình. Sau đây là một số điểm mà tác giả cho rằng báo cáo thường niên của các công ty Việt Nam có thể làm tốt hơn.
1.1. Giới thiệu chiến lược của công ty: Bạn nên giới thiệu với nhà đầu tư chiến lược dài hạn của công ty mà nó tạo nên sự khác biệt và sự thành công của công ty. Những chiến lược này giúp cho nhà đầu tư có một cái nhìn về khả năng phát triển dài hạn của công ty. Chiến lược của công ty phải gắn liền với các thế mạnh của công ty cũng như trong mối liên hệ với môi trường kinh doanh của công ty. Hiện tại nhiều công ty Việt Nam đã có phần trình bày về tầm nhìn, sứ mệnh, giá trị cốt lõi của công ty, tuy nhiên nhiều công ty không có phần trình bày về chiến lược
phát triển công ty hoặc trình bày khá sơ sài. Điều này có thể làm cho nhà đầu tư có thể chưa thực sự yên tâm về khả năng phát triển dài hạn của công ty bạn.
1.2. Rủi ro và quản trị rủi ro. Báo cáo thường niên nên trình bày các rủi ro chính mà công ty có thể phải đối mặt trong năm tới (tức năm hiện tại của ngày phát hành báo cáo thường niên) và các hành động mà công ty sẽ sử dụng để hạn chế các rủi ro xảy ra. Trình bày tốt phần này có nghĩa là công ty của bạn đã chuẩn bị rất tốt, đã dự liệu các rủi ro có thể xảy ra trong tương lai và các biện pháp để ngăn ngừa nó. Điều này giúp các nhà đầu tư tin tưởng hơn những dự báo kết quả và tình hình tài chính của bạn. Ví dụ Unilever đưa ra các dự báo rủi ro cho năm 2010 về kinh tế như sau: Suy giảm kinh doanh trong thời kỳ kinh tế toàn cầu suy giảm, tránh việc sụp đổ của các khách hàng và nhà cung cấp. Do vậy họ: Kiểm soát cẩn thận các chỉ số kinh tế và thường xuyên sử dụng các mô hình ảnh hưởng của các kịch bản kinh tế khác nhau...
1.3. Các số liệu tài chính quan trọng nên trình bày ít nhất là 5 năm liên tục, và nó phải có ý nghĩa so sánh. Để đánh giá đầy đủ về một công ty, các nhà đầu tư cần đánh giá các số liệu của ít nhất là 5 năm gần nhất, được trình bày sao cho thuận tiện nhất cho việc so sánh. Về nguyên tắc bạn nên trình bày càng dài càng tốt từ 10-15 năm như vậy nhà đầu tư càng thấy cả quá trình phát triển của công ty. Báo cáo thường niên 2009 của P&G trình bày 11 năm từ năm 2009 đến năm 1999. Các số liệu tài chính quan trọng có thể bao gồm như: Doanh thu thuần, Lãi kinh doanh, Lãi trước thuế, lãi sau thuế cho cổ đông công ty mẹ, EPS cơ bản, EPS pha loãng, EPS của các hoạt động tiếp tục, EPS của các hoạt động không tiếp tục, Dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh, Tổng tài tài sản, tổng công nợ, tổng vốn chủ sở hữu. Rất nhiều báo cáo thường niên hiện chỉ trình bày số liệu có 2 hay 3 năm. Có một số công ty trình bày số liệu tài chính quan trọng 5 năm nhưng các số liệu EPS lại không được điều chỉnh hồi tố khi có các sự kiện chia thưởng cổ phiếu hay chia cổ tức bằng cổ phiếu. Bởi vậy việc so sánh EPS qua các năm là không mấy ý nghĩa hoặc thậm chí là làm sai lệch nghiêm trọng.
1.4. Điều chỉnh EPS hồi tố. Nếu số cổ phiếu phổ thông hay cổ phiếu phổ thông tiềm năng đang lưu hành tăng như là kết quả của việc phát hành cổ phiếu thưởng hay chia tách cổ phiếu, trả cổ tức bằng cổ phiếu, việc tính EPS cơ bản và pha loãng cho tất cả các kỳ được trình bày phải được điều chỉnh tương ứng. Hiện nay một số công ty không điều chỉnh EPS, một số khác có
điều chỉnh EPS của năm trước, nhưng lại không điều chỉnh trong các phần các chỉ tiêu tài chính quan trọng cho 5 năm, kết quả là các nhà đầu tư có được các thông tin EPS gốc mà nó không có mấy ý nghĩa trong việc so sánh. Ví dụ BCTN của Sacombank ở trang 44 phần các chỉ tiêu tài chính chủ yếu qua các năm, ghi nguyên gốc EPS năm 2009 là 2.771 đ/CP, năm 2008 là 1.869 đ/CP, trong báo cáo kết quả kinh doanh cũng tương tự. Tuy nhiên trong phần thuyết minh số 25 trang 90 thì ghi cả EPS điều chỉnh , khi đó EPS năm 2008 là 1.623 đ/CP (thay vì 1.869). Lẽ ra EPS năm 2008 trong tất cả các báo cáo của năm 2009 phải được trình bày là EPS điều chỉnh (1.623 đ/CP), con số này mới có ý nghĩa cho việc so sánh để thấy được sự tăng trưởng của EPS qua các năm. Tương tự EPS của các năm 2007 đến 2005 trong số liệu tài chính qua các năm đều phải điều chỉnh tương ứng để thấy được sự tăng trưởng của EPS. Việc chỉ trình bày EPS điều chỉnh trong phần thuyết minh các báo cáo tài chính mà không trình bày trên các báo cáo quan trọng như Báo cáo kết quả và phần các chỉ tiêu tài chính quan trọng qua các năm, dễ làm cho các nhà đầu tư hiểu nhầm, vì không phải ai cũng có thời gian đọc phần thuyết minh rất dài của các báo cáo tài chính. Hơn nữa việc phải trình bày EPS điều chỉnh hồi tố là bắt buộc theo quy định của VAS và IFRS (CM báo cáo tài chính quốc tế).
1.5. EPS pha loãng (Diluted EPS). Việc tính EPS trở nên phức tạp khi công ty có các khoản trái phiếu chuyển đổi, chứng quyền và lựa chọn quyền mua cổ phiếu hay các công cụ tài chính mà nó có thể chuyển đổi thành cổ phiếu phổ thông. VAS quy định chưa rõ ràng về EPS “suy giảm” tức pha loãng mặc dù chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 33 “yêu cầu bắt buộc báo cáo kết quả kinh doanh của các công ty phải trình bày cả hai chỉ tiêu EPS cơ bản và EPS pha loãng trên bề mặt của Báo cáo Kết quả kinh doanh với mức độ nổi bật như nhau”. Nhiều công ty Việt Nam hiện nay vẫn chưa báo cáo EPS pha loãng. Cho các quyết định đầu tư, nhà đầu tư luôn cần phải xem xét cả EPS cơ bản và EPS pha loãng. Trong tình huống mà doanh nghiệp có nhiều trái phiếu chuyển đổi thì EPS pha loãng vô cùng quan trọng nó là một chỉ báo cho EPS của các năm tới chứ không phải là EPS cơ bản. Ví dụ của ngân hàng ACB trong những năm gần đây là một điển hình mà EPS pha loãng là cơ sở chính xác hơn để các nhà đầu tư ước tính EPS của những năm tới.
Chỉ tiêu 2009 2008
EPS cơ bản (Đ/CP) 3.042 3.563
EPS pha loãng (Đ/CP) 2.751 2.979
Tuy nhiên nhiều công ty không trình bày chỉ tiêu EPS pha loãng. SSI cuối năm 2009 vẫn còn
hơn 222 tỷ đ trái phiếu chuyển đổi sẽ chuyển thành 22.222.400 cổ phiếu mà nó sẽ chuyển đổi vào ngày 30.1.2010 để tăng vốn điều lệ từ 1.533 tỷ đ lên 1.755 tỷ đ. Tuy nhiên trong phần báo cáo tài chính của SSI năm 2009 không trình bày chỉ tiêu rất quan trọng đối với các nhà đầu tư là EPS pha loãng. Nếu tính EPS pha loãng của SSI, nó sẽ giảm hơn 10% so với EPS cơ bản do cổ phiếu của SSI bị pha loãng 14%.
1.6. Trình bày Lương và thu nhập của Chủ tịch hội đồng quản trị và Tổng giám đốc. Theo quy định của Việt Nam, Lương của TGĐ phải được báo cáo trước đại hội đồng cổ đông. Đó là một chỉ tiêu khá nhạy cảm ở Việt Nam. Rất nhiều công ty không đưa chỉ tiêu này vào báo cáo thường niên hoặc đưa vào số liệu tổng cho cả một nhóm ví dụ như HĐQT, Ban kiểm soát và Ban tổng giám đốc. Cũng có công ty đưa ra con số % lương, thu nhập, thù lao trên tổng số thu nhập như của Vinamilk mà thực chất thì những con số này gần như không có ý nghĩa đối với các nhà đầu tư. Nếu một công ty trả lương tốt cho Tổng giám đốc, Chủ tịch HĐQT mà công ty vẫn có kết quả kinh doanh tốt, thì đó là một công ty tốt. Tuy nhiên nếu một công ty trả lương cho từng cá nhân lãnh đạo công ty rất thấp nhưng công ty có kết quả kinh doanh tốt, điều đó làm các nhà đầu tư thấy bất an bởi tính bền vững của các nhà quản trị này, liệu họ có tiếp tục làm ở đấy nữa hay không? Rủi ro mà nhà quản trị chuyển sang công ty khác có mức thu nhập tốt hơn rất dễ xảy ra.
2. Trình bày các báo cáo tài chính
2.1. Trình bày báo cáo tài chính cho số liệu của 3 năm gần nhất (thay vì chỉ có 2 như hiện nay). Mặc dù chế độ kế toán của Việt Nam chỉ quy định bắt buộc các số liệu của năm hiện tại và năm trước đó. Tuy nhiên để các nhà đầu tư có một cách nhìn tốt hơn về công ty, đa phần các báo cáo tài chính của các công ty trên thị trường chứng khoán quốc tế (Unilever hay P&G) trình bày 3 năm liên tục cho năm hiện tại và 2 năm liền trước đó. Như vậy nhà đầu tư sẽ có các số liệu lịch sử dài hơn để có thể đánh giá về công mà có thể không cần phải tìm hiểu thêm báo cáo của các năm trước đó. Điều này không trái với quy định của chế độ kế toán Việt Nam.
2.2. Các hoạt động không tiếp tục. Các hoạt động không tiếp tục liên quan đến việc đóng cửa hoặc bán một bộ phận của doanh nghiệp. Nếu một công ty cắt bỏ một bộ phận kinh doanh nào đó, nó cần phải báo cáo riêng biệt kết quả kinh doanh của các bộ phận vẫn tiếp tục và các bộ phận không tiếp tục, cả hai đều phải được báo cáo trên báo cáo kết quả kinh doanh hay trong thuyết minh báo cáo tài chính. Để có các báo cáo kết quả kinh doanh có tính so sánh tốt, lãi lỗ
của các bộ phận không tiếp tục cần được chỉ ra riêng biệt cho tất cả các năm trong quá khứ mà bộ phận này hoạt động, nếu không tình hình tài chính hiện tại của công ty mà nó không bao gồm các bộ phận đã cắt bỏ, sẽ không thể so sánh được với tình hình tài chính (các số liệu) quá khứ. EPS là một sự tổng hợp quan trọng, nó được báo cáo riêng biệt cho các hoạt động không tiếp tục.
2.3. Báo cáo bộ phận . VAS 28 đã yêu cầu chi tiết về báo cáo các bộ phận, nó giống như IAS 14, tuy nhiên dường như các công ty làm báo cáo bộ phận rất sơ sài chưa đáp ứng được các yêu cầu của VAS cũng như yêu cầu của các nhà đầu tư. Báo cáo bộ phận cần thiết cho việc đánh giá rủi ro và lợi ích kinh tế của doanh nghiệp có nhiều ngành hàng khác nhau, có cơ sở ở nước ngoài hoặc doanh nghiệp có phạm vi hoạt động trên nhiều khu vực địa lý khác nhau. Báo cáo bộ phận nhằm hỗ trợ người sử dụng báo cáo tài chính: a) Hiểu rõ về tình hình hoạt động các năm trước của doanh nghiệp; b) Đánh giá đúng về những rủi ro và lợi ích kinh tế của doanh nghiệp; và c) Đưa ra những đánh giá hợp lý hơn về doanh nghiệp.
Ví dụ báo cáo bộ phận của Vinamilk chỉ đưa ra báo cáo kết quả ngắn gọn của bộ phận xuất khấu và bán nội địa. Thiết nghĩ Vinamilk nên báo cáo bộ phận theo lĩnh vực kinh doanh hay ngành hàng cũng như nhìn thấy được sự rủi ro của chúng. Trong báo cáo của Chủ tịch HĐQT Vinamilk đã báo cáo rõ hơn về các bộ phận gồm (1) Nhóm sữa bột và bột dinh dưỡng, (2) Sữa đặc có đường, (3) Sữa tươi và sữa chua uống, (4) Hàng lạnh, thực phẩm và giải khát, (5) Cà phê, (6) Đầu tư tài chính. Nếu báo cáo bộ phận của Vinamilk trình bày theo các ngành này thì nhà đầu tư sẽ dễ dự đoán được tương lai của công ty hơn. Các số liệu báo cáo bộ phận nên trình bày cho 3 năm.
2.4. Báo cáo kết quả theo quý và cả năm. Hoạt động của các doanh nghiệp thường có tính thời vụ, để các nhà đầu tư có một cái nhìn đầy đủ hơn về doanh nghiệp, bạn nên trình bày báo cáo kết quả rút gọn theo từng quý và cho 2 năm.
Hãy xem trích đoạn của báo cáo thường niên của P&G năm 2009, phần Kết quả theo quý (chưa kiểm toán) (đơn vị Triệu USD):
Ngày kết thúc quý 30.9 31.12 31.3 30.6 Cả năm
Doanh thu thuần 2009 21.582 20.368 18.417 18.662 79.024
2008 19.799 21.038 20.026 20.885 81.748
Những công ty hoạt động có tính thời vụ lớn như ngành bánh kẹo, đồ gỗ, thời trang thì báo cáo năm theo quý đặc biệt có ý nghĩa với các nhà đầu tư.
2.5. Dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh. Trong báo cáo thường niên của P&G năm 2009, 3 chỉ tiêu tài chính quan trọng nhất được làm nổi bật (trang đầu) đó là Doanh thu ròng, EPS và dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh. Một doanh nghiệp có tình hình tài chính, và kết quả kinh doanh bình thường thì dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh là một số dương và nó thường ở mức bằng lãi ròng sau thuế cộng với các khoản chi phí khấu hao và chi phí không phải chi tiền trong kỳ. Nó nói lên rằng cho các hoạt động kinh doanh thông thường, dòng tiền thu về từ bán hàng và dịch vụ đủ bù đắp cho các chi phí kinh doanh thông thường và còn dư ra một khoản để tái đầu tư cho tương lai. Tuy nhiên do các hướng dẫn của VAS chưa rõ ràng, các khoản phải trả thương mại bao gồm cả các khoản phải trả khác cho mua sắm tài sản dài hạn, hay tài sản tài chính do vậy dòng tiền từ thuần từ hoạt động kinh doanh có thể bị lẫn lộn với các dòng tiền từ các hoạt động đầu tư hay tài chính. Báo cáo thường niên năm 2008 của một công ty đồ gỗ (trong nhóm 10 báo cáo thường niên hay nhất năm 2008) bị lỗi kỹ thuật rất nghiêm trọng này.
2.6. EPS cơ bản: EPS là một chỉ tiêu rất quan trọng của các công ty đại chúng và nhất là các công ty niêm yết. Tuy nhiên do chế độ kế toán của Việt Nam đưa ra cách tính sai rất căn bản (đến này vẫn chưa sửa). Đó là lãi dùng để tính EPS bao gồm cả các khoản quỹ khen thưởng phúc lợi không thuộc cổ đông. Bởi vậy EPS của các công ty bị sai lệnh nhiều ít tùy thuộc vào phần lãi sau thuế cho quỹ khen thưởng phúc lợi của công ty đó. Rất nhiều công ty trích quỹ khen thưởng phúc lợi từ 5-15% lợi nhuận sau thuế, do vậy EPS của các công ty này cũng bị sai lệch tương ứng tỷ lệ này. Vinamilk năm 2009 trích 10% lãi sau thuế cho quỹ khen thưởng phúc lợi, nên EPS của Vinamilk bị sai lệch so với số thực là 10%. Cá biệt có công ty trích quỹ này lên tới 30% như Công ty Than Núi Béo.
Để hiểu hơn về việc lập các báo cáo tài chính chuẩn theo VAS và IFRS, bạn có thể tham khảo sách Kế Toán Tài Chính của tác giả Trần Xuân Nam vừa được tái bản 7.2010
Hạch toán hoa hồng đại lý bán hàng đúng giá
Quyết định 15/2006/QĐ-BTC về việc ban hành chế độ kế toán mới trong đó hướng dẫn hạch toán hoa hồng bán hàng đại lý đúng giá như sau :
Khi xác định hoa hồng bán hàng đúng giá mà đại lý được hưởng, bên Đại lý lập hóa đơn trên số hoa hồng thực hưởng để ghi giảm công nợ phải trả cho bên Chủ Hàng đồng thời hạch toán như sau :
Nợ TK 111, 131 : Phải thu, đã thu từ bán hàng của Đại lý
Có TK 331 : Số phải trả cho bên chủ hàng
Có TK 511 : Hoa hồng đại lý được hưởng
Có TK 33311 : Thuế GTGT trên phần hoa hồng được hưởng
Nợ TK 331 : Cấn trừ số phải trả cho bên Chủ hàng
Bên Chủ hàng căn cứ vào báo cáo bán hàng của Đại lý, hóa đơn hoa hồng, thực hiện xuất hóa đơn trên phần bán của Đại lý và ghi nhận như sau :
Có TK 511 : Doanh thu bán hàng đại lý
Có TK 33311 : Thuế GTGT hàng bán đại lý
Nợ TK 641 : Hoa hồng đại lý
Nợ TK 1331 : Thuế GTGT đầu vào của khoản hoa hồng
Nợ TK 131,138 : Số còn phải thu Đại lý
Nhìn vào hướng dẫn trên đây, chúng ta cần thấy có một số vấn đề như sau đồng thời kiến nghị phương hướng ghi nhận hạch toán cũng như quản lý nhằm thuận lợi hơn trong công tác quản lý số liệu kế toán :
Thứ nhất, hoa hồng không phải là giá trị gia tăng. Thật ra hoa hồng là một phần của giá trị gia tăng và phần giá trị gia tăng đó đã chịu thuế đầu ra của bên Chủ hàng. Trong trường hợp này, có thể thấy có một khoản thuế GTGT đã đánh 2 lần lên phần giá trị tương ứng với hoa hồng
Điều này không thể hiện đúng bản chất của thuế GTGT là không đánh trùng và cũng không thể hiện đúng bản chất của thuế GTGT là đánh lên phần giá trị gia tăng.
Thứ hai, nếu đánh thuế GTGT lên hoa hồng, thì mức hoa hồng đại lý được hưởng ở mức bao nhiêu trong biểu thuế GTGT. Mục I.1 Phần A Thông tư 120/2003/TT-BTC của Bộ Tài Chính hướng dẫn thi hành nghị định 158/2003/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thuế GTGT có quy định rõ về đối tượng chịu thuế GTGT là “… hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất kinh doanh và tiêu dùng …”. Vậy hoa hồng có nằm trong nhóm này hay không ?
Thứ ba, giả thiết rằng nếu chủ hàng gửi bán hàng hóa không thuộc diện chịu thuế GTGT nhưng Đại lý là đơn vị áp dụng PP khấu trừ thì sao ? Như vậy, cũng theo QĐ 15 thì trường hợp này không ghi nhận thuế GTGT của hoa hồng được hưởng. Không ghi nhận thuế GTGT trên phần hoa hồng được hưởng thì mâu thuẩn với những phân tích phủ nhận ở điều thứ nhất , nếu ghi nhận hoa hồng thì không thoả đáng vì mặt hàn bán ra không chịu thuế nên hoa hồng bỗng nhiên chịu thuế sẽ làm cho khái niệm chịu thuế của hoa hồng tại những điều kiện khác nhau lại được suy diễn khác nhau. Tiếp đó, nếu giả thiết đại lý là đơn vị hạch toán theo PP trực tiếp, Chủ hàng thì theo PP khấu trừ và mặt hàng thì chịu thuế, thì việc xuất hóa đơn và quản lý sẽ ra sao ?
Ba phân tích trên đây hướng tới việc đề xuất một phương án thống nhất trong việc ghi nhận hoa hồng. Tuy nhiên, trước khi đề xuất, chúng ta hãy thử phân tích xem việc ghi nhận hoa hồng theo 4 sơ đồ 91H, 91I, 91J, 91K có thể hiện ưu điểm nào trong việc ghi nhận thuế của hoa hồng hay không ! Nếu xét về việc ghi nhận thuế của hoa hồng, thật sự việc hạch toán này giống như chỉ là một cách cân đối của kế toán. Đó là nếu ghi nhận thuế GTGT của hoa hồng thì Đại lý chịu nộp thuế GTGT đầu ra và Chủ hàng thì dùng nó làm đầu vào. Giả sử việc hạch toán này giúp cho Cơ quan thuế dễ kiểm tra hơn thì cũng không chính xác lắm, vì gặp phải phân tích thứ ba trên đây, còn gây khó khăn hơn.
Như vậy, thiết nghĩ việc ghi nhận hoa hồng không kèm theo ghi nhận thuế GTGT. Vì có ghi nhận thì cũng không thể hiện được gì mà còn làm cho kế toán rơi vào những tình huống khó khăn “muốn hiểu sao cũng được” (như phân tích thứ ba trên đây), đồng thời không thể hiện
đúng ý nghĩa của thuế GTGT là đánh lên giá trị tăng thêm của hàng hóa dịch vụ bán ra
Đây là 1 đề tài rất hay và đáng quan tâm
Cần thống nhất quy định về các khoản dự phòng
Dự phòng là khoản nợ không chắc chắn về giá trị và thời gian: như vậy, một khoản dự phòng là một khoản nợ nhưng mới là nghĩa vụ nợ tiềm tàng vì chưa chắc chắn về mặt giá trị khoản nợ, giá trị giảm sút lợi ích kinh tế và thời gian sẽ phát sinh. Khoản dự phòng sẽ được ghi nhận trên Báo cáo tài chính và thường xuyên được xem xét lại giá trị ước tính vào cuối mỗi niên độ kế toán.
Nợ tiềm tàng là nghĩa vụ nợ có khả năng phát sinh từ các sự kiện đã xảy ra và sự tồn tại của nghĩa vụ này chỉ được xác nhận bởi khả năng thường xảy ra hay không của một hoặc nhiều sự kiện không chắc chắn trong tương lai mà DN không kiểm soát được. Là nghĩa vụ nợ hiện tại phát sinh từ các sự kiện đã xảy ra nhưng chưa được ghi nhận vì chưa chắc chắn có sự giảm sút về lợi ích kinh tế do việc phải thanh toán nghĩa vụ nợ, giá trị khoản nợ chưa được xác định một cách đáng tin cậy. Nợ tiềm tàng chưa được ghi nhận trên Bảng cân đối kế toán cho đến khi có chứng cứ chắc chắn về các sự kiện sẽ xảy ra.
Dưới góc độ kế toán quy định các khoản dự phòng sau: dự phòng giảm giá hàng tồn kho; dự phòng tổn thất các khoản đầu tư tài chính; dự phòng nợ phải thu khó đòi (theo Quyết định 15/2006/QĐ-BTC); dự phòng cho các khoản chi phí tái cơ cấu DN, dự phòng cho những hợp đồng có rủi ro lớn, dự phòng bảo hành sản phẩm hàng hóa, dự phòng về chi phí bảo hành công trình xây lắp ) theo chuẩn mực kế toán số 18 – Các khoản dự phòng, tài sản và nợ tiềm tàng)
Dưới góc độ tài chính theo Thông tư số 13/2006/TT-BTC, thì có các khoản dự phòng: Dự phòng giảm giá hàng tồn kho; dự phòng tổn thất các khoản đầu tư tài chính; dự phòng nợ phải thu khó đòi và dự phòng bảo hành sản phẩm hàng hóa, công trình xây lắp.
Thực tế hiện nay giữa quy định của kế toán và quy định của tài chính về các khoản dự phòng là chưa thống nhất dẫn đến khó khăn cho những người làm công tác kế toán cũng như những đối tượng liên quan, do đó cần phải được xử lý như sau:
Thứ nhất, thống nhất cách hiểu về bản chất các khoản dự phòng.
Về Tài khoản phản ánh các khoản dự phòng và tương tự dự phòng gồm có:
+ TK 129 – Dự phòng giảm giá đầu tư ngắn hạn, TK 139 – Dự phòng phải thu khó đòi
TK 159 – Dự phòng giảm giá hàng tồn kho, TK 229 – Dự phòng giảm giá đầu tư dài hạn.
+ TK 351 – Quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm, TK 352 – Dự phòng phải trả, TK 335 – Chi phí phải trả.
+ TK 415 – Quỹ dự phòng tài chính.
Như vậy, ta thấy rằng dự phòng theo quy định hiện nay là việc ghi nhận trước vào chi phí những khoản tổn thất dự kiến có thể xảy ra trong tương lai “là khoản nợ phải trả nhưng chưa chắc chắn được về giá trị và thời gian”
Trong thực tế các TK này được mở để phản ánh các nội dung đã nêu. Nhưng câu hỏi được đặt ra ở đây là tại sao các khảon dự phòng này có cùng mục đích nhưng cách mã hóa tài khoản lại khác nhau? Cho nên cần thiết phải đưa ra một nguyên tắc mã hóa để dễ nhận biết các khoản dự phòng này hơn. Nguyên tắc đưa ra có thể là các tài khoản phản ánh dự phòng đều có đuôi cuối cùng là 9, và lúc đó sẽ có: TK 129, TK 229, TK 159, TK 139, TK 3X9, TK 4Y9 cho thống nhất. Bên cạnh đó cũng cần xem xét, nếu với cách mã hóa TK phản ánh các khoản dự phòng như hiện tại thì nhóm TK 129, 229, 139, 159 có phải mang tính chất dự phòng phải trả không? Và bản chất nhóm này có khác bản chất nhóm TK 351, 352, 335 không?
Thứ hai, thống nhất xử lý các khoản dự phòng giữa quy định của chuẩn mực số 18, Quyết định 15/2006 và Thông tư số 13/2006
Xem bảng sau:
Tiêu thức
Theo QĐ 15/2006 và Chuẩn mực số 18
Theo Thông tư 13/2006
Trích lập lần đầu hoặc trích lập bổ sung thêm
Khi hoàn nhập
Trích lập lần đầu hoặc trích lập bổ sung thêm
Khi hoàn nhập
1. Dự phòng Đầu tư tài chính
Nợ TK 635
Có TK 129, 229
Nợ TK 129, 229
Có TK 635
Nợ TK 635
Có TK 129, 229
Nợ TK 129, 229
Có TK 515
2. Dự phòng phải thu khó đòi
Nợ TK 642(6)
Có TK 139
Nợ TK 139
Có TK 642(6)
Nợ TK 642(6)
Có TK 139
Nợ TK 139
Có TK 711
3. Dự phòng Giảm giá HTK
Nợ TK 632
Có TK 159
Nợ TK 159
Có TK 632
Nợ TK 632
Có TK 159
Nợ TK 159
Có TK 711
4. Dự phòng Bảo hành SP, HH
Nợ TK 641
Có TK 352
Nợ TK 352
Có TK 641
Nợ TK 641
Có TK 352
Nợ TK 352
Có TK 711
5. Dự phòng bảo hành Công trình XL
Nợ TK 641
Có TK 352
Nợ TK 352
Có TK 711
Nợ TK 641
Có TK 352
Nợ TK 352
Có TK 711
6. Dự phòng trợ cấp mất việc làm
Nợ TK 642
Có TK 351
Nợ TK 351
Có TK 642
7. Dự phòng các khoản CP tái cơ cấu DN
Nợ TK 642
Có TK 352
Nợ TK 352
Có TK 642
8. Dự phòng các Hợp đồng có rủi ro lớn
Nợ TK 642
Có TK 352
Nợ TK 352
Có TK 642
9. Quỹ dự phòng tài chính
Nợ TK 421
Có TK 415
Nhìn vào quy định được phân tích trên, ta thấy Chuẩn mực số 18 và Quyết định số 15/2006 khi
rích lập hoặc trích lập thêm các khoản dự phòng tính vào chi phí, còn khi hoàn nhập thì ghi giảm chi phí đã trích, trừ trường hợp trích lập dự phòng cho hoạt động tài chính thì khi hòan nhập tính vào chi phí hoạt động tài chính lập. Tuy nhiên, theo như quy định của Thông tư số 13/2006 khi trích lập hoặc trích lập thêm thì tính vào chi phí, còn khi hoàn nhập thì tính vào nhập khác trừ trường hợp dự phòng các khoản đầu tư tài chính thì khi hoàn nhập tính vào doanh thu hoạt động tài chính. Với quy cách xử lý khác nhau này dẫn đến những người làm công tác kế toán không biết nên áp dụng như thế nào. Về việc trích lập lần đầu, trích lập bổ sung thêm đều tính vào chi phí thì cơ bản đã thống nhất giữa hai bên, nhưng về việc hoàn nhập thì khác biệt hòan toàn. Đi sâu về bản chất, ta thấy dù theo phương pháp xử lý hòan nhập nào (ghi giảm chi phí hay tăng thu nhập) đều làm cho kết quả trong kỳ tăng lên. Nhưng thực tế vẫn cần phải có sự thống nhất giữa hai quy định này.
Thứ ba, số lượng các khoản dự phòng
Theo chuẩn mực số 18 và Quyết định 15 bao gồm có 9 khoản dự phòng và mang tính chất dự phòng, nhưng theo Thông tư số 15 chỉ có 05 khoản dự phòng. Như vậy, vấn đề đặt ra là liệu ngoài các khoản dự phòng thống nhất trong quy định giữa hai bên thì các khoản dự phòng còn lại khi trích lập có được xem là chi phí hợp lý không? Và sẽ thực hiện theo cơ chế tài chính nào? Trong các khoản dự phòng đã trích lập nêu trên, Quỹ dự phòng tài chính được trích lập vào lợi nhuận sau thuế, như vậy có mâu thuẫn với nguyên tắc trích lập dự phòng là tính vào chi phí trước thuế không?
Tìm hiểu và phân tích mô hình kế toán tinh gọn trong các doanh nghiệp hiện nay
Sản xuất và chi phí sản xuất luôn được đặt ra xem xét, nhằm tìm cách cải thiện sao mang lại hiệu quả cao nhất trong sản xuất cũng như hướng tới người tiêu dùngở mức độ cao nhất. Thật vậy, trong một vài năm trở lại đây, một vài công ty đang cố gắng vận dụng, phát triển quá trình sản xuất tinh gọn như là một yếu tố then chốt để mở rộng và gia tăng lợi nhuận cho công ty mình. Tuy nhiên, hầu hết những công ty này vẫn còn giữ lại các công cụ quản lý, chế độ kế toán, tài chính và những cách thức đo lường kết quả theo phướng cách truyền thống. Điều này sẽ làm giảm đi phần nào những hiệu quả mà mô hình tinh gọn trong sản xuất mang lại cho đơn vị. Do vậy, các chuyên gia tài chính trong công ty này đã cố gắng tìm cách tháo bỏ những khó khăn này, để đem lại hiệu quả cao nhất của mô hình sản xuất tinh gọn bằng cách thực hiện một phương pháp mới, một phương pháp phi truyền thống để có thể quản lý và đo lường doanh nghiệp. Mô hình mới này được gọi là mô hình kế toán tinh gọn...
Kế toán tính gọn
Kế toán tính gọn (L/A) là mô hình kế toán áp dụng cho những doanh nghiệp ứng dụng quy trình sản xuất tinh gọn. Mô hình này bao gồm những phương pháp như tổ chức và quản lý chi phí theo dòng giá trị, thay đổi kỹ thuật đánh giá hàng tồn kho và đưa thêm một số thông tin phi tài chính vào báo cáo tài chính công ty... Để có thể thay đổi và áp dụng thống nhất cho toàn doanh nghiệp được như vậy, L/A đã thực hiện một quy trình được gọi là quy trình quản lý dòng chảy giá trị.
Quản lý dòng chảy giá trị (VSM).
Quản lý dòng chảy giá trị là một cách thức khác để đo lường và đánh giá kết quả hoạt động của một doanh nghiệp và yêu cầu phải thay đổi quy trình ra quyết định. Hơn hẳn cách thức quản lý và đo lường kết quả cung với các bộ phận truyền thống, chẳng hạn như bộ phận dịch vụ khách hàng, bộ phận mua sắm, bộ phận sản xuất, kỹ sư, tài chính và kế toán, công ty lúc này sẽ tổ chức đơn vị của mình thành những dòng giá trị và quản lý, đo lường theo từng dòng chảy giá
trị này. Một dòng chảy giá trị sẽ bao gồm tất cả các chức năng và con người để hỗ trợ hoàn toàn từ đầu đến cuối của chính dòng chảy giá trị đó. Người quản lý dòng chảy giá trị có trách nhiệm bao quát toàn bộ và hướng đến lợi nhuận chung của dòng giá trị đó. Vào mỗi tuần, các thành viên trong cùng một nhóm của dòng chảy giá trị sẽ cùng nhau đo lường giá trị đã thu được, bao gồm cả đánh giá quá trình hoạt động, năng lực, khía cạnh tài chính của dòng chảy giá trị.
Hơn thế nữa, mục tiêu của việc quản lý dòng chảy giá trị là để xác định và giảm hoặc loại bỏ các lãng phí trong dòng chảy giá trị tại công ty của bạn. Khái niệm lãng phí trong tinh gọn là bất cứ cái gì không làm tăng giá trị sản phẩm, và VSM là một công cụ cực kỳ hiệu quả giúp cho cấp quản lý và công ty tập trung vào các nỗ lực liên tục cải tiến trong lộ trình đúng đắn, và cải thiện dòng chảy sản phẩm thông qua quy trình sản xuất bằng cách giảm bớt các cản trở và các sản phẩm dở dang hay chậm tồn trong dây chuyền. Việc cải thiện dòng chảy sẽ làm tăng lợi ích sản xuất.
Các bước thực hiện
Các bước cơ bản để thực hiện việc quản lý dòng chảy giá trị gồm những bước sau:
Chúng ta sẽ xác định dòng chảy giá trị chính của công ty bao gồm những yêu cầu về giá trị sẽ tạo ra, sản phẩm mới, quá trình phát triển kinh doanh và cả quy trình sử lý thực hiện chung.
Chúng ta sẽ sơ đồ hóa các điểm đo lường chính để công ty có thể sử dụng làm căn cứ để sau này đánh giá, giám sát những cái đạt được so với chiến lược chính của công ty. Chúng ta sẽ xác định một bộ tiêu chuẩn đo lường cho toàn công ty, sau đó sẽ tiếp tục giảm xuống để đo lường cho từng bộ phận, từng cá nhân.
Chúng ta sẽ thay đổi cấu trúc hệ thống tài khoản kế toán theo từng dòng chảy giá trị, đông thời chúng ta sẽ giữ lại hệ thống đo lường giá vốn hàng bán của hàng tồn kho từ việc bán hàng, chi phí quản lý chung để các chi phí này có thể dễ dàng xác định hơn vào cuối tháng.
Cuối cùng, chúng ta sẽ tiến hành phân bổ chi phí nguyên vật liệu tương ứng với số giá
vốn hàng đã bán được vào báo cáo nội bộ dòng chảy giá trị để chứng minh được sự gia tăng hiệu quả của việc mua hàng tồn kho, từ đó chứng minh về giá trị dã được tạo ra mới trong nội bộ doanh nghiệp.
Sau khi đã thay đổi cơ bản, người quản lý hệ thống VSM sẽ mô hình hóa thành sơ đồ dòng giá trị. Sơ đồ dòng giá trị là một trong những công cụ giúp ta có thể vẽ được toàn bộ dòng giá trị của các hoạt động trong hệ thống hiện tại. Qua đó, giúp ta có thể phát hiện được nơi nào đang bị vấn đề và không tạo ra giá trị. Nhờ vậy, chúng ta có thể đưa ra các biện pháp cải tiến phù hợp và kịp thời.
Nguyên tắc, ứng dụng và công cụ của mô hình kế toán tinh gọn
Các nguyên tắc, áp dụng và các công cụ của L/A sẽ được tóm tắt qua bảng sau đây. Các nguyên tác sẽ được phân chia thành 5 nhóm, từ A đến E. Cụ thể như sau:
Nguyên tắc
Ứng dụng
Công cụ của mô hình kế toán tinh gọn
A. Việc ghi nhận và chế độ kế toán của doanh nghiệp tinh gọn và đơn giản
1. Tiếp tục giảm lãng phí từ quy trình ghi nhận các nghiệp vụ kế toán phát sinh, báo cáo và các phương pháp kế toán truyền thống khác.
a. Sơ đồ dòng chảy giá trị (VSM);
b. Mô hình KAIZEN (mô hình cải tiến chi phi tinh gọn);
c. Mô hình giải quyết vấn đề PDCA (Plan, Do, Check, Act).
B. Quy trình kế toán giúp chuyển dổi sang mô hình tinh gọn
1. Kiểm soát về mặt quản lý và tiếp tục cải tiến
a. Sơ đồ liên kết đo lường hoạt động (PMLC), liên kết với các cách đo lường quy trình, dòng chảy giá trị, được của tổ chức về chiến lược doanh nghiệp, chi phí mục tiêu và mứ độ cải tiến tinh gọn;
b. Xây dựng ban thi hành dòng chảy giá trị để áp dụng và kiểm soát các mô hình hiện tại;
c. Sử dụng hợp kết quả cung cấp và báo cáo về kết quả đạt được của dòng chảy giá trị trong từng bộ phận, từng cấp
2. Kiểm soát chi phí
a. Mô hình chi phí dòng chảy giá trị (VSC);
b. Báo cáo thu thập dòng giá trị;
3. Giá trị của khách hàng và nhà cung cấp, quản lý chi phí
a. Mô hình chi phí mục tiêu (Tarrget costing).
C. Truyền thông về thông tin rõ ràng và kịp thời
1. Báo cáo tài chính
a. Sử dụng báo cáo tài chính ngắn gọn;
b. Áp dụng chế độ kế toán dựa trên cơ sở tiền.
2. Báo cáo về quá trình thực hiện và đo lường thông tin tài chính và ghi tài chính
a. Báo cáo chính sử dụng thông tin của ban thực hiện dòng chảy giá trị, phòng ban khác, quy trình sản xuất, thiết kế sản phẩm, bán hàng, tiếp thị, quản lý,...;
3. Đưa ra quyết định
a. Phân tích khả năng tạo lợi nhuận và chi phí sử dụng bằng việc sử dụng chi phí dòng chảy giá trị và hộp kết quả.
D. Lập kế hoạch từ khía cạnh kế toán tinh gọn
1. Lập kế hoạch và dự toán
a. Triển khai việc áp dụng mô hình chính sách của HOSHIN
b .Mô hình SOFP (Bán hàng, Hoạt động và lập kế toán tài chính)
2. Ảnh hưởng đến việc cải tiến tinh gọn
a. Phân tích khả năng và chi phí của dòng chảy giá trị;
b. Sơ đồ dòng chảy giá trị của các khu vực hiện tại và phát sinh trong tương lai;
c. Hộp kết quả sẽ thể hiện sự thay đổi và kết quả đạt được trong khả năng có được, hoạt động, tài chính từ việc cải tiến theo mô hình kế toán tinh gọn
3. Lập kế hoạch về vốn
a. Bảng phân tích ảnh hưởng của dòng chảy giá trị đến các chi phí được hoặc không được vốn
hóa sau này. Thường sử dụng phương pháp tiến cận theo 3P.
4. Đầu tư vào con người
a. Đo lường quá trình thực hiện tham gia của từng thành viên trong tổ chức, mức độ thảo mãn của nhân viên và đào tạo chéo giữa các cá nhân với nhau;
b. Chia sẻ lợi nhuận thu được cho mọi người
E. Tăng cường việc kiểm soát hệ thống kế toán nội bộ
1. Kiểm soát nội bộ dựa trên kiểm soát hoạt động tinh gọn trong hệ thống kế toán
a. Ma trận cắt giảm nghiệp vụ và quy trình;
b. Bản đồ quy trình thể hiện cách kiểm toán và những rủi ro có thể gặp phải;
2. Đánh giá hàng tồn kho
a. Sử dụng các phương pháp đơn giản nhất để đánh giá hàng tồn kho mà không cần bất kỳ yêu cầu nào khác trong hệ thống kê khai thường xuyên và chi phí sản xuất sản phẩm khi hàng tồn kho ở mức thấp nhất hoặc có thể không đủ để sử dụng (vi dụ mô hình Kaizen, JIT...)
Lợi ích của mô hình kế toán tinh gọn
Có thế xem xét kỹ lưỡng, giám sát và kiểm soát từ khâu bắt đầu đến khi kết thúc quy trình.
Cung cấp được một nội dung rõ ràng về từng quy trình có liên quán đến nguyên vật liệu và dòng thông tin có liên quán khác.
Xác định được những hư hỏng lãng phí trong từng khâu, từng bước của quy trình sản xuất hiện tại ở công ty.
Giảm được thời gian quản lý cũng như giảm số lượng sản phẩm dở dang trên dây chuyền, phế liệu.
Phát triển và nâng cao chất lượng sản phẩm cũng như độ hữu dụng chung cho khách hàng.
Cung cấp một kế hoạch để thực hiên cải tiến quy trình sản xuất nhằm cắt giảm chi phí.
Tăng cường sản xuất và truyền thông tin.
Thử thách đặt ra khi áp dụng mô hình kế toán tinh gọn
Các báo cáo truyền thống theo từng bộ phận sẽ không còn hiện hữu như hiện nay, mà thay vào đó là việc phân tích giá trị theo từng nhóm dòng chảy giá trị.
Các chi phí chuẩn sẽ không bao giờ được sử dụng trong hệ thống VSM. Chúng ta chỉ có thể căn cứ vào các chứng từ chi tiết về nguyên vật liệu và giá trị hàng tồn kho cuối kỳ của công ty để làm căn cứ sử dụng đánh giá giá trị chi phí chuyển đổi trên mức giá vốn hàng bán bình quân cho từng ngày, từ đó xác định số ngày hàng tồn kho bình quân vào lúc cuối tháng.
Khi chuyển đổi hệ thông bình thường sang mô hình tinh gọn thì có thể dẫn đến sự phản ứng của đội ngũ nhận viên, vì họ chưa quen với mô hình này, đồng thời trách nhiệm của họ bây giờ phải gắn liền với chính bộ phận của mình chứ không còn tách biệt hay chung chung được nữa. Do vây, có thể một số nhân viên có thể bị sa thải do quy trình rút gọn hoặc không nắm bắt được công nghệ.
Giải pháp cơ bản
Toàn thể nhân viên trong doanh nghiệp cần được đào tạo để họ có thể hiểu một cách chắc chắn, chính xác và toàn bộ về tầm quan trọng và cách áp dụng mô hình kế toán tinh gọn là như thế nào.
Tạo và mở rộng quan hệ với các nhà cung cấp để khẳng định vai trò của họ và giá trị của họ đối với công ty của mình.
Quản lý thật chặt chẽ những thay đổi trong phạm vi tổ chức.
Tóm lại, mô hình kế toán tinh gọn là một mô hình ứng dụng trong doanh nghiệp khá mới. Tuy nhiên, nó cung cấp thông tin một cách chính xác, kịp thời và có thể hiểu được một cách dễ dàng nhất để cải tiến quá trình chuyển đổi và truyền thông giữa các bộ phận trong doanh nghiệp. Hơn thế nữa, mô hình này ứng dụng công cụ quản lý dòng chảy giá trị nhằm loại bỏ đi những lãng phí từ quy trình kế toán thông thường, nhưng bản thân nó vẫn đáp ứng đúng yêu cầu về mặt nguyên tắc kế toán chung, quy định về báo cáo tài chính ra bên ngoài cũng như những quy định báo cáo nội bộ đơn vị. Nếu chúng ta biết vận dụng tốt mô hình kế toán tinh gọn thì nó sẽ là một công cụ đắc lực để qua đó đầu tư hơn cho con người, làm cho họ làm chủ hơn trong công việc của mình, cung cấp thông tin một cách chủ đông hơn, nhanh chóng hơn và sẽ tạo nên một động lực lớn nhằm cải thiện tốt hơn quy trình trong từng bộ phận của doanh nghiệp.