Thứ Sáu, 1 tháng 8, 2014
Có không dòng “đầu tư xâm thực”?
Thứ Năm, 31 tháng 7, 2014
Tăng cường giám sát việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí
THTK, CLP trong chi tiêu công được Chính phủ ưu tiên thực hiện. Nguồn: internet Nghiêm túc thực hiện
Theo Bộ Tài chính, việc THTK, CLP là một chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước. Trong những năm qua, thực hiện chức năng nhiệm vụ được Chính phủ phân công, hằng năm Bộ Tài chính đều có văn bản hướng dẫn, đôn đốc các bộ, ngành, địa phương trong cả nước triển khai thực hiện nghiêm các quy định pháp luật về THTK, CLP. Đồng thời tăng cường thanh tra, kiểm tra về THTK, CLP theo chức năng nhiệm vụ và lĩnh vực quản lý, xử lý nghiêm theo quy định pháp luật đối với các tổ chức, cá nhân vi phạm. Công tác thanh tra, kiểm tra hằng năm của Bộ Tài chính đều có nội dung thanh tra, kiểm tra việc thực hiện Luật THTK, CLP đối với các cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước (NSNN).
Ngay từ đầu năm 2013, Bộ Tài chính đã hướng dẫn các cơ quan trung ương và địa phương triển khai, thực hiện nghiêm quy định của Luật THTK, CLP, triệt để tiết kiệm tiền, tài sản, tài nguyên thiên nhiên... Cơ quan tài chính các cấp, hệ thống Kho bạc Nhà nước thực hiện kiểm soát chi chặt chẽ, đảm bảo đúng mục đích, đối tượng và hiệu quả.
Bộ Tài chính đã trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 09/CT-TTg ngày 24/5/2013 về việc tăng cường chỉ đạo điều hành thực hiện nhiệm vụ tài chính - NSNN năm 2013, với nội dung trọng tâm là yêu cầu các bộ, ngành, địa phương tiếp tục rà soát, sắp xếp để tiết kiệm thêm 10% dự toán chi thường xuyên còn lại của 7 tháng cuối năm 2013, không bổ sung nguồn kinh phí ngoài dự toán để mua xe ô tô. Ngoài ra, cắt giảm dự toán chi, thu hồi để bổ sung dự phòng ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương (NSĐP) đối với số vốn đầu tư và kinh phí thường xuyên đến ngày 30/6/2013 chưa phân bổ hoặc phân bổ, sử dụng không đúng quy định.
Bộ Tài chính cũng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương dành tối thiểu 50% nguồn dự phòng ngân sách các cấp để đảm bảo cân đối NSNN; các địa phương chủ động sắp xếp, điều chỉnh các nhiệm vụ chi phù hợp với khả năng thu NSNN, phấn đấu thu quyết liệt để đảm bảo cân đối NSĐP.
Bộ trưởng Bộ Tài chính cũng đã ban hành Chỉ thị số 04/CT-BTC ngày 6/11/2013 yêu cầu các cơ quan, đơn vị tăng cường tiết kiệm hơn nữa; tiết giảm tối đa kinh phí chi thường xuyên; không xử lý bổ sung ngoài dự toán và ứng vốn, trừ trường hợp thật sự cần thiết, cấp bách; dự toán chi thường xuyên năm 2013 đã giao nhưng chưa thực hiện hết sẽ bị hủy bỏ, trừ những nhiệm vụ chi được chuyển nguồn theo chế độ quy định.
Cơ quan tài chính địa phương tổ chức theo dõi chặt chẽ tình hình thu, chi ngân sách tại địa phương, căn cứ khả năng thu và sử dụng các nguồn lực tài chính của địa phương để chủ động tổ chức điều hành chi NSĐP, trong đó ưu tiên dành nguồn để xử lý các nhu cầu cấp thiết về an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh tại địa phương.
Trên thực tế, trong năm 2013, Bộ Tài chính đã ban hành nhiều Thông tư, văn bản hướng dẫn chính sách, chế độ để quản lý chặt chẽ, hiệu quả NSNN như Thông tư số 17/2013/TT-BTC về quản lý, sử dụng chi phí quản lý dự án của các dự án đầu tư sử dụng vốn NSNN; Thông tư số 20/2012/TT-BTC về quản lý, sử dụng kinh phí thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia; Thông tư số 48/2013/TT-BTC về quản lý, sử dụng kinh phí thực hiện Đề án trợ giúp người khuyết tật; các văn bản hướng dẫn việc mua sắm tài sản từ nguồn NSNN...
Đồng thời, đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra việc quản lý, sử dụng tiền, tài sản nhà nước tại các bộ, ngành, địa phương (như: Bộ Y tế, Bảo hiểm Xã hội Việt Nam, các tỉnh Sóc Trăng, Điện Biên, Thừa Thiên - Huế, Phú Yên,...), qua đó đã phát hiện, kiến nghị xử lý đối với các sai phạm gây lãng phí; các cơ quan, đơn vị được thanh tra, kiểm tra đã và đang chấn chỉnh, khắc phục những kiến nghị, xử lý qua thanh tra của Bộ Tài chính.
Tiếp tục đẩy mạnh thanh tra
Bộ Tài chính cho biết, trong năm 2014 và các năm tiếp theo, Bộ sẽ tiếp tục đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về THTK, CLP và xử lý, kiến nghị xử lý các hành vi vi phạm theo đúng quy định của Luật THTK, CLP (sửa đổi) đã được Quốc hội khóa XIII thông qua tại kỳ họp thứ 6 (tháng 10/2013) vừa qua.
Tuy nhiên, theo Bộ Tài chính, để việc THTK, CLP có hiệu quả cao cần có sự tham gia quyết liệt của các cấp, các ngành, toàn thể nhân dân trong cả nước. Bộ Tài chính cũng đề nghị các Đoàn Đại biểu Quốc hội, các vị Đại biểu Quốc hội và cử tri cả nước tăng cường hơn nữa hoạt động giám sát, phát hiện và phản ánh các vụ việc vi phạm pháp luật, gây lãng phí đến các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để kịp thời ngăn chặn, xử lý theo quy định của pháp luật.
Tổng kết 7 năm thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, Bộ Tài chính cho biết, từ năm 2006- 2012, tổng số tiết kiệm 10% chi thường xuyên ngoài lương và có tính chất lương của các cơ quan, đơn vị để thực hiện cải cách tiền lương là 11.543,7 tỷ đồng; trong đó khối cơ quan trung ương là 2.846 tỷ đồng, khối cơ quan địa phương là 8.697,7 tỷ đồng.
Trong điều hành thực hiện dự toán NSNN, Chính phủ đã chỉ đạo các bộ, ngành và địa phương triển khai quyết liệt các biện pháp THTK, CLP. Từ năm 2011, các bộ, ngành, địa phương đã nghiêm túc thực hiện việc tạm dừng mua sắm, trang bị mới xe ô tô, điều hoà nhiệt độ; tiết giảm chi phí xăng, dầu, điện, nước, văn phòng phẩm, chi tổ chức hội nghị, hội thảo, đi công tác trong và ngoài nước… Từ năm 2008 đến năm 2012, số tiền tiết kiệm được qua việc mua sắm tài sản tập trung là trên 467 tỷ đồng.
Từ 2006- 2010, các đơn vị ngành Tài chính thực hiện 32.933 cuộc thanh tra, kiểm tra, tập trung vào công tác điều hành, quản lý và sử dụng kinh phí NSNN tại các cơ quan, đơn vị, địa phương. Qua thanh tra, kiểm tra đã phát hiện và kiến nghị xử lý tài chính 18.473 tỷ đồng, trong đó: thu hồi nộp NSNN 15.037 tỷ đồng; xử phạt hành chính 1.037 tỷ đồng; xử lý tài chính khác 2.398 tỷ đồng.
Từ 2006 đến tháng 7/2012, hệ thống Kho bạc Nhà nước đã thực hiện kiểm soát và phát hiện trên 219.000 khoản chi của hơn 96.443 lượt đơn vị chưa chấp hành đúng thủ tục, chế độ quy định và đã yêu cầu đơn vị bổ sung các thủ tục cần thiết, đã từ chối chưa thanh toán với số tiền khoảng 2.086 tỷ đồng.
Theo baohaiquan.vn Từ khóa: thực hành tiết kiệm , chống lãng phí , ngân sách nhà nước , ngân sách địa phương , Chỉ thị số 04/CT-BTC , Kho bạc Nhà nước , tiết giảm chi phí Các tin đã đưa PCI bước sang giai đoạn mới Tháo gỡ rào cản cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trong tiếp cận vốn FDI cân nhắc vào Campuchia, Lào: Báo động cho Việt Nam Số doanh nghiệp khó khăn trở lại hoạt động tăng 48,9% Tăng cường giám sát việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí Đắt như đồng vốn ODA Có không dòng “đầu tư xâm thực”? Cơ hội cho các ngành hàng xuất khẩu “Bẫy thu nhập trung bình đã trở thành thực tế cho Việt Nam” Từ nghi án hối lộ ngành đường sắt, điểm danh sách các dự án chậm tiến độ Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăngHọ và tên: (*)
Địa chỉ Email: (*)
Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR Số ký tự còn lại: (*) Nhập mã bảo mậtTiêu điểm tài chính BẢO HIỂM HƯU TRÍ Ở VIỆT NAM
Sự già hoá của dân số Việt Nam đã tác động không nhỏ đến ngân sách chính phủ và sự bền vững tài chính của quỹ hưu trí. Thực tế này đang đang đặt ra yêu cầu cải cách hệ thống hưu trí theo hướng đảm bảo sự bền vững của hệ thống, sự cân đối của quỹ hưu trí trong dài hạn và bao phủ số đông dân số nhằm đảm bảo cuộc sống của người lao động khi đến tuổi nghỉ hưu. Đọc nhiều nhất
Phương Tây trừng phạt Nga: Lợi thì có lợi...
Chậm nộp quyết toán thuế, doanh nghiệp có thể bị xử phạt tới 200 triệu đồng
Lộ trình ATIGA đến năm 2018: Thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam
Tháo chạy, chốt lời…
“Loạn” gói hỗ trợ bất động sản Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies
View the Original article
Thứ Tư, 30 tháng 7, 2014
Số doanh nghiệp khó khăn trở lại hoạt động tăng 48,9%
Số DN gặp khó khăn phải ngừng hoạt động, trong tháng 3 đã hoạt động trở lại là 982 DN. Nguồn: internet Trong quý I/2014, cả nước có 18.358 DN đăng ký thành lập mới với số vốn đăng ký 97.983 tỷ đồng, tăng 16,9% về số DN và 23,4% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ/2013. So với quý I/2013, số DN thành lập mới và số vốn đăng ký lần lượt tăng 8,9% và tăng 3,6%.
Quý I/2014, tổng số DN gặp khó khăn phải giải thể hoặc đăng ký tạm dừng hoạt động, hoặc ngừng hoạt động nhưng không đăng ký là 16.745 DN, tăng 9,6% so với cùng kỳ/trước. Trong đó, 3.846 DN đăng ký tạm ngừng hoạt động, tăng 7,8%, có 10.318 DN ngừng hoạt động nhưng không đăng ký, tăng 9,3%, 2.581 DN giải thể, tăng 13,6%.
Số DN khó khăn, ngừng hoạt động, đã quay trở lại hoạt động trong quý I/2014 là 4.622 DN, tăng 48,9% so với quý IV/2013.
Về cơ cấu DN đăng ký theo lĩnh vực, trong quý I, những ngành có xu hướng tốt lên như: Hoạt động phục vụ cá nhân (thành lập mới tăng 52,1%, dừng hoạt động giảm 3,3%), tài chính, ngân hàng và bảo hiểm (thành lập mới tăng 18,9%, dừng hoạt động giảm 14,7%), sản xuất phân phối điện, nước, gas (thành lập mới tăng 57,3%, dừng hoạt động giảm 5,4%).
Một số ngành đang có sự tái cơ cấu mạnh mẽ như: Nghệ thuật, vui chơi và giải trí; thông tin và truyền thông; nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản; kinh doanh bất động sản… Tính riêng trong tháng 3, cả nước có 7.487 DN được thành lập mới với số vốn đăng ký 35.081 tỷ đồng, tăng 87% về số DN và tăng 82,9% về số vốn đăng ký so với tháng 2.
Tổng số DN gặp khó khăn buộc phải giải thể hoặc đăng ký tạm ngừng hoạt động có thời hạn hoặc ngừng hoạt động nhưng không đăng ký là 4.358 DN, tăng 1,6% so với tháng 2, trong đó: 740 DN đăng ký tạm ngừng hoạt động có thời hạn, giảm 18,7%. Có 2.928 DN ngừng hoạt động nhưng không đăng ký, tăng16,4%, có 690 DN giải thể, giảm 20%.
Số DN gặp khó khăn phải ngừng hoạt động, trong tháng 3 đã hoạt động trở lại là 982 DN, giảm 28,4% so với tháng 2/2014 (1.265 DN).
Tuy nhiên, Tổng cục Thống kê đánh giá: Vẫn còn một số ngành gặp khó khăn so với cùng kỳ năm trước khi có số DN đăng ký thành lập mới tăng thấp trong khi DN gặp khó khăn phải giải thể hoặc tạm ngừng hoạt động tăng cao hơn như dịch vụ việc làm, du lịch, cho thuê máy móc thiết bị, đồ dùng và các dịch vụ hỗ trợ, xây dựng...
Theo chinhphu.vn Từ khóa: đăng ký thành lập mới , vốn đăng ký , giải thể , tài chính , ngân hàng , bảo hiểm , tái cơ cấu , dịch vụ , xây dựng Các tin đã đưa PCI bước sang giai đoạn mới Tháo gỡ rào cản cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trong tiếp cận vốn FDI cân nhắc vào Campuchia, Lào: Báo động cho Việt Nam Số doanh nghiệp khó khăn trở lại hoạt động tăng 48,9% Tăng cường giám sát việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí Đắt như đồng vốn ODA Có không dòng “đầu tư xâm thực”? Cơ hội cho các ngành hàng xuất khẩu “Bẫy thu nhập trung bình đã trở thành thực tế cho Việt Nam” Từ nghi án hối lộ ngành đường sắt, điểm danh sách các dự án chậm tiến độ Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăngHọ và tên: (*)
Địa chỉ Email: (*)
Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR Số ký tự còn lại: (*) Nhập mã bảo mậtTiêu điểm tài chính BẢO HIỂM HƯU TRÍ Ở VIỆT NAM
Sự già hoá của dân số Việt Nam đã tác động không nhỏ đến ngân sách chính phủ và sự bền vững tài chính của quỹ hưu trí. Thực tế này đang đang đặt ra yêu cầu cải cách hệ thống hưu trí theo hướng đảm bảo sự bền vững của hệ thống, sự cân đối của quỹ hưu trí trong dài hạn và bao phủ số đông dân số nhằm đảm bảo cuộc sống của người lao động khi đến tuổi nghỉ hưu. Đọc nhiều nhất
Phương Tây trừng phạt Nga: Lợi thì có lợi...
Chậm nộp quyết toán thuế, doanh nghiệp có thể bị xử phạt tới 200 triệu đồng
Lộ trình ATIGA đến năm 2018: Thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam
Tháo chạy, chốt lời…
“Loạn” gói hỗ trợ bất động sản Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies
View the Original article
Thứ Ba, 29 tháng 7, 2014
Nâng kim ngạch thương mại Việt Nam-Indonesia lên 10 tỷ USD
Hai nước đã nhất trí nâng mục tiêu thương mại từ 5 tỷ USD vào năm 2015 lên đến 10 tỷ USD vào năm 2018. Nguồn: internet Kim ngạch thương mại hai chiều Indonesia và Việt Nam đang rất gần với mốc 5 tỷ USD trong vòng ba năm qua, và Việt Nam là một đối tác thương mại xếp thứ 14 của Indonesia trong tất cả các đối tác thương mại ở những quốc gia khác. Với quan hệ đối tác chiến lược của cả hai nước, hợp tác kinh tế và thương mại với Việt Nam có thể sẽ được cải thiện hơn nữa trong tương lai. Bên cạnh đó, “Chương trình hành động” cũng đã đưa ra một loạt các hình thức hợp tác kinh tế cụ thể và có thể tiến hành ngay.
Những mặt hàng chủ yếu mà Indonesia xuất khẩu sang Việt Nam là: Giấy các loại (253,59 triệu USD), hóa chất (148,62 triệu USD), máy móc, linh kiện (146,83 triệu USD), dầu động vật, thực vật (100,76 triệu USD), xe ô tô và linh kiện (91,77 triệu USD)…
Trong khi đó, các mặt hàng chủ lực mà Việt Nam xuất khẩu sang Indonesia là: Điện thoại di động và linh kiện (654,42 triệu USD), thép các loại (325,82 triệu USD), nguyên phụ liệu dệt may, giày, da (98,08 triệu USD), gạo (91,32 triệu USD), các sản phẩm may mặc (88,79 triệu USD), các sản phẩm nhựa (68,66 triệu USD), cà phê (25,20 triệu USD)…
Trong lĩnh vực đầu tư, Indonesia xếp hạng 26 trong danh sách các quốc gia đầu tư tại Việt Nam với 38 dự án có vốn đầu tư khoảng 320,52 triệu USD trong giai đoạn 1988-2013. Tuy nhiên, vốn đầu tư của Indonesia vào Việt Nam có thể hơn 2 tỷ USD vì được đăng ký qua nước thứ 3.
Đầu tư từ Indonesia vào Việt Nam chủ yếu ở những lĩnh vực như công nghiệp chế biến, lưu trú, dịch vụ ăn uống, y tế và trợ giúp xã hội, khai khoáng, giao thông, bán sỉ, lẻ, sửa chữa, nông nghiệp, ngư nghiệp, nghệ thuật và giải trí, xây dựng, dịch vụ hỗ trợ hành chính, viễn thông và xi măng.
Việt Nam hiện có 8 dự án đầu tư tại Indonesia với tổng vốn là 49,66 triệu USD. Theo Bộ Kế hoạch Đầu tư Việt Nam, Việt Nam đầu tư vào những lĩnh vực như khai thác dầu khí, bán lẻ, xuất nhập khẩu, thông tin truyền thông, xe gắn máy và linh kiện xe ô tô.
Ông Lê Tôn Thanh, Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt Nam-Indonesia, cho biết trong năm 2013, hai nước đã ký kết một số Biên bản ghi nhớ, như: Biên bản ghi nhớ Hợp tác sản phẩm Nông nghiệp, Biên bản ghi nhớ Hợp tác trong lĩnh vực Năng lượng và Biên bản ghi nhớ Hợp tác về tài chính. Cả hai nước cũng nhất trí thành lập Tiểu ban hợp tác về năng lượng và an ninh lương thực (JCFESC) năm 2014 trong khuôn khổ Ủy ban hỗn hợp về hợp tác kinh tế, khoa học và kỹ thuật (JCESTC).
Theo ngài Mayerfas, là một nước có hơn 240 triệu dân, hiện nay Indonesia có nhu cầu nhập khẩu đối với các sản phẩm nông nghiệp như gạo, thực phẩm... Vì vậy, Chính phủ Indonesia đã và đang có nhiều chính sách ưu đãi hỗ trợ để kêu gọi các nhà đầu tư nước ngoài nói chung và Việt Nam nói riêng đầu tư vào những lĩnh vực này.
Bên cạnh đó, quan hệ giao thương trong các lĩnh vực khác như văn hóa, du lịch, giáo dục cũng đang ngày một phát triển.
Chỉ riêng trong lĩnh vực du lịch, năm 2013 có hơn 300.000 du khách Indonesia đã đến Việt Nam và ngược lại du khách Việt Nam cũng đã dần xem Indonesia là một điểm đến du lịch hấp dẫn và thân thiện. Tổng lãnh sự quán Indonesia đã tổ chức và tham gia ít nhất 27 chương trình hoạt động văn hóa và tham gia vào các sự kiện, hội chợ từ thiện, triển lãm du lịch và lễ hội văn hóa do phía Việt Nam tổ chức. Theo chinhphu.vn Từ khóa: Indonesia , USD , biên bản ghi nhớ , kim ngạch thương mại , thương mại , đại sứ đặc mệnh toàn quyền , gạo , đô-la hóa Các tin đã đưa Nâng kim ngạch thương mại Việt Nam-Indonesia lên 10 tỷ USD Xuất khẩu sang Hoa Kỳ: Tăng vẫn lo Xuất khẩu Việt Nam vẫn đột phá Xuất khẩu Việt Nam tăng nhanh bậc nhất châu Á Thương mại Việt Nam - Brazil có thể đạt 3 tỷ USD năm 2014 Việt Nam xuất khẩu ôtô: Tin được không? 9 nhóm hàng xuất khẩu trên 1 tỷ USD Năm 2030: Trung Quốc sẽ trở thành thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam 2 tháng đầu năm: Xuất siêu 1,3 tỷ USD Làm gì để nâng cao giá trị thủy sản xuất khẩu? Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng
Họ và tên: (*)
Địa chỉ Email: (*)
Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR Số ký tự còn lại: (*) Nhập mã bảo mậtTiêu điểm tài chính BẢO HIỂM HƯU TRÍ Ở VIỆT NAM
Sự già hoá của dân số Việt Nam đã tác động không nhỏ đến ngân sách chính phủ và sự bền vững tài chính của quỹ hưu trí. Thực tế này đang đang đặt ra yêu cầu cải cách hệ thống hưu trí theo hướng đảm bảo sự bền vững của hệ thống, sự cân đối của quỹ hưu trí trong dài hạn và bao phủ số đông dân số nhằm đảm bảo cuộc sống của người lao động khi đến tuổi nghỉ hưu. Đọc nhiều nhất
Phương Tây trừng phạt Nga: Lợi thì có lợi...
Chậm nộp quyết toán thuế, doanh nghiệp có thể bị xử phạt tới 200 triệu đồng
Lộ trình ATIGA đến năm 2018: Thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam
Tháo chạy, chốt lời…
“Loạn” gói hỗ trợ bất động sản Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies
View the Original article
Thứ Hai, 28 tháng 7, 2014
FDI cân nhắc vào Campuchia, Lào: Báo động cho Việt Nam
Việt Nam là nước đang phát triển nhưng việc thu hút đầu tư nước ngoài vẫn tồn tại nhiều hạn chế so với các nước chậm phát triển. Nguồn: internet Trong cuộc trao đổi với chúng tôi, ông Trần Hữu Huỳnh - nguyên Trưởng ban Pháp chế Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã phân tích kỹ hơn về thực tế này và chỉ ra những hạn chế nhất định trong quá trình thu hút, quản lý các doanh nghiệp nước ngoài (FDI) tại Việt Nam thời gian qua.
Việt Nam cần lo vì...
Phân tích kỹ hơn về đánh giá của các doanh nghiệp nước ngoài được đưa ra tại lễ công bố chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh CPI do VCCI tổ chức với thông tin, cơ sở hạ tầng của Việt Nam ngang bằng Campuchia, Lào, riêng tham nhũng và gánh nặng quy định pháp luật Việt Nam bị đánh giá hơn 2 nước này.
Ngoài ra, có đến 54% doanh nghiệp FDI trước khi chọn Việt Nam, đã từng cân nhắc đầu tư vào các nước khác trong khi năm 2011, 2012 con số này chỉ là 32%, đặc biệt đã xuất hiện những nước chưa từng được coi là “đối thủ” cạnh tranh về vốn FDI như Campuchia, Lào, ông Trần Hữu Huỳnh nói:"Campuchia và Lào là 2 nước chậm phát triển còn Việt Nam là nước đang phát triển.
Trong chậm phát triển bao gồm mức sống và vấn đề về hạ tầng cơ sở nhưng bây giờ hạ tầng cơ sở của họ gần ngang với mình trong khi đặc điểm địa hình của Lào phần lớn là núi và khoảng cách địa lý dàn trải nhưng vẫn ngang bằng Việt Nam. Cơ sở hạ tầng bao gồm điện, đường, nước và những hạ tầng khác như sân bay, bến cảng đòi hỏi đầu tư lớn. Khi các nhà đầu tư lựa chọn thì cơ sở hạ tầng là điểm đầu tiên họ cân nhắc”.
Ngoài ra, ông Trần Hữu Huỳnh cũng chỉ rõ phản ánh của doanh nghiệp nước ngoài về dịch vụ hành chính công, Việt Nam bị đánh giá thua xa các nước, thậm chí bằng một nửa mặc dù cuộc cải cách hành chính của Việt Nam đã có sự nỗ lực nhưng những nỗ lực mới trên văn bản, thực tế sự cảm nhận, hài lòng của doanh nghiệp chưa nhiều. “Chúng ta cũng có quá nhiều quy định, quy định càng nhiều, độ tự do kinh doanh và vấn đề thực thi quy định càng kém.
Mong muốn của chúng ta là có nhiều quy định để tuân thủ pháp luật nhưng thực chất họ không hài lòng vì để thực thi quy định đó sẽ mất nhiều thời gian thực hiện, mất nhiều chi phí, nhân lực để thực hiện và quan trọng là càng nhiều quy định càng tạo điều kiện cho tham nhũng khi giám sát không tốt. Đây là mối quan hệ hữu cơ giữa tham nhũng và số lượng quy định và dịch vụ thực hiện quy định", ông Huỳnh nói.
Theo ông Trần Hữu Huỳnh, Việt Nam đáng ra phải bứt phá lên để làm công nghệ cao, ít gia công đơn giản nhưng thực tế không phải như vậy, Việt Nam vẫn phải thu hút doanh nghiệp nước ngoài gia công đơn giản do áp lực giải quyết việc làm cao. “Những nhà đầu tư nước ngoài nhìn ra mức độ ngang bằng thậm chí ở một số lĩnh vực Lào, Campuchia, Myanmar hơn Việt Nam nên chưa hẳn sẽ chuyển những lĩnh vực gia công đơn giản sang đó mà sẽ có những ngành nghề ở mức độ trung bình họ có thể chuyển sang.
Đây là điểm cần suy nghĩ mặc dù đây là nhóm sản xuất, gia công ở một số lĩnh vực", ông Huỳnh nói. Trả lời câu hỏi liệu Campuchia và Lào có thể "vượt mặt" Việt Nam trong thu hút đầu tư nước ngoài hay không, nếu có thời gian có thể là bao lâu, ông Trần Hữu Huỳnh cho biết, việc này còn tùy thuộc vào một số yếu tố khác như chất lượng nhân lực, mức độ quy mô của nền kinh tế Việt Nam, quy mô sản xuất trong một số lĩnh vực...
"Cảnh báo đây cho thấy môi trường không tốt, anh đã từng cải thiện nhưng vẫn không tốt nhất là trong cạnh tranh nhưng không có nghĩa là ngay ngày mai các doanh nghiệp nước ngoài sẽ chuyển đi hết mà còn các yếu tố khác nhưng vẫn là sự báo động", ông Huỳnh nói.
Việt Nam cần làm gì?
Ông Trần Hữu Huỳnh khẳng định, thu hút đầu tư nước ngoài luôn luôn phải là ưu tiên và làm mọi cách để thu hút đầu tư nước ngoài. Việt Nam vẫn phải thu hút doanh nghiệp nước ngoài gia công đơn giản do áp lực giải quyết việc làm cao. Thêm nữa, nếu Việt Nam phát triển mạnh doanh nghiệp dân doanh trong nước cũng là cơ hội, điều kiện để chọn lọc nhà đầu tư nước ngoài tốt. Lý do, khi Việt Nam mạnh có nghĩa sẽ giải quyết được lao động đơn giản, lao động gia công.
Ông Huỳnh cũng đặt câu hỏi: "Tại sao quy định của chúng ta nhiều? Chúng ta quan niệm rằng nhà nước cần phải làm nhiều, trong khi các nước khác đang giảm thiểu vai trò của nhà nước, nhà nước chỉ phục vụ chứ nhà nước không phải sản xuất, nhà nước can thiệp quá sâu", ông Huỳnh nói.
Ngoài ra, ông Huỳnh cũng chỉ ra những bất cập trong việc thu hút đầu tư nước ngoài thời gian qua nằm ở việc quản lý và thu hút. Cụ thể, khi các doanh nghiệp đã vào Việt Nam, hiện tượng chuyển giá, vấn đề lao động, bảo vệ môi trường là những vấn đề cần nỗ lực để cải thiện.Thứ 2, phải tạo ra được sự liên kết không gượng ép giữa nền kinh tế trong nước với nước ngoài mặc dù đã nói nhiều nhưng vẫn không làm được.
Những cuộc "kết hôn" giữa doanh nghiệp dân doanh với doanh nghiệp nước ngoài gần như không còn, việc tiếp nhận, mở cửa đón doanh nghiệp nước ngoài chưa làm được các việc như nhận công nghệ, quản trị….
Mối quan hệ giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp nội địa cũng không có, phần lớn vẫn nhập nguyên liệu từ chính họ, không thể gia tăng giá trị của doanh nghiệp Việt trong hội nhập."Với vấn đề chuyển giao công nghệ, chúng ta chưa chủ động trong khi nước ngoài họ thấy có lợi họ sẽ làm, không có lợi họ sẽ không tiếp tục", ông Huỳnh nói.
Cũng theo ông Trần Hữu Huỳnh, ở góc độ nhất định doanh nghiệp nước ngoài vẫn được ưu ái hơn các doanh nghiệp dân doanh trong nước. Theo baodatviet.vn Từ khóa: Lào , công ty nước ngoài , Campuchia , gia công , thu hút , đầu tư nước ngoài , FDI , Phòng Thương mại và Công nghiệp VN Các tin đã đưa PCI bước sang giai đoạn mới Tháo gỡ rào cản cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trong tiếp cận vốn FDI cân nhắc vào Campuchia, Lào: Báo động cho Việt Nam Số doanh nghiệp khó khăn trở lại hoạt động tăng 48,9% Tăng cường giám sát việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí Đắt như đồng vốn ODA Có không dòng “đầu tư xâm thực”? Cơ hội cho các ngành hàng xuất khẩu “Bẫy thu nhập trung bình đã trở thành thực tế cho Việt Nam” Từ nghi án hối lộ ngành đường sắt, điểm danh sách các dự án chậm tiến độ Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng
Họ và tên: (*)
Địa chỉ Email: (*)
Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR Số ký tự còn lại: (*) Nhập mã bảo mậtTiêu điểm tài chính BẢO HIỂM HƯU TRÍ Ở VIỆT NAM
Sự già hoá của dân số Việt Nam đã tác động không nhỏ đến ngân sách chính phủ và sự bền vững tài chính của quỹ hưu trí. Thực tế này đang đang đặt ra yêu cầu cải cách hệ thống hưu trí theo hướng đảm bảo sự bền vững của hệ thống, sự cân đối của quỹ hưu trí trong dài hạn và bao phủ số đông dân số nhằm đảm bảo cuộc sống của người lao động khi đến tuổi nghỉ hưu. Đọc nhiều nhất
Phương Tây trừng phạt Nga: Lợi thì có lợi...
Chậm nộp quyết toán thuế, doanh nghiệp có thể bị xử phạt tới 200 triệu đồng
Lộ trình ATIGA đến năm 2018: Thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam
Tháo chạy, chốt lời…
“Loạn” gói hỗ trợ bất động sản Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies
View the Original article
Chủ Nhật, 27 tháng 7, 2014
Tháo gỡ rào cản cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trong tiếp cận vốn
Đối thoại đã thu hút được sự tham gia của đông đảo học giả, các nhà hoạch định chính sách, ngân hàng – đại diện các nhà cho vay tín dụng, các DN và tổ chức, hiệp hội về DN trong và ngoài khu vực Châu Á- Thái Bình Dương cũng như ở Việt Nam.
Tại các nền kinh tế đang phát triển trong khu vực Châu Á- Thái Bình Dương, điển hình là Việt Nam, hiện có khảng hơn 90% tổng số DN trong nền kinh tế được xếp vào loại hình MES (hộ kinh tế gia đình) và SMEs. Sự tồn tại và phát triển của loại hình DN này đóng vai trò quan trọng, không chỉ đối với tăng trưởng kinh tế, mà còn đối với việc ổn định an sinh xã hội, tạo công ăn việc làm và phát triển bền vững của một quốc gia. Điều đáng chú ý là nhóm DN này chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng số các DN đang hoạt động kinh doanh và được đánh giá là đối tượng dễ bị tổn thương nhất trong nền kinh tế, bởi những cú sốc kinh tế, với nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan.
Bên cạnh đó, sự mở rộng phát triển của các SMEs từ trước đến nay đã và đang được đánh giá là góp phần đáng kể vào tăng trưởng GDP bình quân đầu người; bổ sung các giá trị gia tăng thực tế cho sản phẩm, tăng sản lượng sản xuất trong nền kinh tế. Đồng thời, các DN cũng góp phần phát triển các chuỗi sản xuất và chuỗi giá trị trong khu vực; ổn định nền kinh tế nhờ hoạt động dưới kinh thức các nhà thầu phụ cho các tập đoàn và DN lớn. Các DN này cũng đã đóng góp tích cực cho ngành công nghiệp và dịch vụ hỗ trợ thông qua tăng cường chuyên môn hóa trong quá trình sản xuất…
Tuy nhiên, điều đáng lưu ý là tuy các SMEs đóng vai trò quan trọng với nền kinh tế song loại hình DN này đã và đang gặp nhiều khó khăn trong quá trình phát triển sản xuất và mở rộng kinh doanh. Những khó khăn này bắt nguồn từ cả khía cạnh chính sách, quy định của Chính phủ lẫn trong thực tế hoạt động của DN. Các chính sách, quy định pháp luật của Chính phủ cùng các cơ chế cho vay hoặc hỗ trợ vốn của các tổ chức tín dụng, sự giúp đỡ, kết nối của các hiệp hội có liên quan… là những yếu tố mang tính khách quan, có tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh cũng như khả năng tồn tại và phát triển của DN.
Ngoài ra, sự nỗ lực của chính các DN trong việc nâng cao khả năng quản lý kinh doanh, công nghệ sản xuất, khả năng kết nối với các DN khác trong và ngoài nước… là yếu tố yếu định chính đến thành công của mỗi DN.
Với những phân tích về vai trò của loại hình DN này, sự đóng góp của chúng cho nền kinh tế, các khó khăn mà họ đang gặp phải, đặc biệt là trong quá trình tiếp cận nguồn vốn vay thương mại, cũng như nhằm hỗ trợ tích cực cho các SME strong APEC, việc Chính phủ và khu vực tư nhân tiếp tục tổ chức các đối thoại chính sách để tăng cường hiểu biết lẫn nhau và có sự phối hợp hài hòa, hợp lý giữa Chính phủ và khu vực tư nhân là thiết thực. Điều này góp phần tăng thêm giá trị của APEC trong lĩnh vực hợp tác về SMEs.
Với tinh thần đó, Việt Nam quyết định phối hợp với APEC tổ chức đối thoại nói trên, nhằm xây dựng và đưa ra các sáng kiến về hợp tác tài chính thực sự có lợi cho cộng đồng DN trong khu vực nói chung và của Việt Nam nói riêng, cũng như nhằm nâng cao uy tín của Việt Nam trong hợp tác kinh tế APEC.
Từ khóa: nguồn vốn , thương mại , doanh nghiệp nhỏ và vừa , cú sốc kinh tế , hợp tác tài chính , ngân hàng , chính sách , giá trị gia tăng , hợp tác kinh tế Các tin đã đưa PCI bước sang giai đoạn mới Tháo gỡ rào cản cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trong tiếp cận vốn FDI cân nhắc vào Campuchia, Lào: Báo động cho Việt Nam Số doanh nghiệp khó khăn trở lại hoạt động tăng 48,9% Tăng cường giám sát việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí Đắt như đồng vốn ODA Có không dòng “đầu tư xâm thực”? Cơ hội cho các ngành hàng xuất khẩu “Bẫy thu nhập trung bình đã trở thành thực tế cho Việt Nam” Từ nghi án hối lộ ngành đường sắt, điểm danh sách các dự án chậm tiến độ Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăngHọ và tên: (*)
Địa chỉ Email: (*)
Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR Số ký tự còn lại: (*) Nhập mã bảo mậtTiêu điểm tài chính BẢO HIỂM HƯU TRÍ Ở VIỆT NAM
Sự già hoá của dân số Việt Nam đã tác động không nhỏ đến ngân sách chính phủ và sự bền vững tài chính của quỹ hưu trí. Thực tế này đang đang đặt ra yêu cầu cải cách hệ thống hưu trí theo hướng đảm bảo sự bền vững của hệ thống, sự cân đối của quỹ hưu trí trong dài hạn và bao phủ số đông dân số nhằm đảm bảo cuộc sống của người lao động khi đến tuổi nghỉ hưu. Đọc nhiều nhất
Phương Tây trừng phạt Nga: Lợi thì có lợi...
Chậm nộp quyết toán thuế, doanh nghiệp có thể bị xử phạt tới 200 triệu đồng
Lộ trình ATIGA đến năm 2018: Thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam
Tháo chạy, chốt lời…
“Loạn” gói hỗ trợ bất động sản Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies
View the Original article
Thứ Bảy, 26 tháng 7, 2014
Tồn kho bất động sản: Giảm trên giấy, thực tế vẫn "ế"
Lượng hàng tồn kho của thị trường bất động sản hiện nay có thể lớn hơn rất nhiều so với con số khoảng 92.690 tỷ đồng. Nguồn: internet Theo số liệu của Bộ Xây dựng, tính đến cuối tháng 2/2014, tổng giá trị tồn kho bất động sản của Việt Nam vào khoảng 92.690 tỷ đồng. Theo như những số liệu trên thì lượng tồn kho của thị trường bất động sản đều đã giảm so với tháng 12/2013. Tuy nhiên, chỉ cần dạo quanh các dự án đô thị nằm trên địa bàn Hà Nội thì thấy rằng, hàng tồn kho bất động sản còn quá lớn. Hiện còn nhiều dự án đã hoàn thiện xong nhưng vẫn không có mấy khách hỏi mua như Dự án Tân Tây Đô, Lideco, Văn Phú, Văn Khê, An Hưng. Phần lớn các dự án đô thị tại Hà Nội hiện nay đều được triển khai từ thời điểm 2009 - 2010 khi mà thị trường đang ở giai đoạn nóng nhất. Chính việc chào bán ở mức giá quá cao so với thu nhập của đại bộ phận xã hội đã khiến những chủ đầu tư phải trả giá đắt. Mặc dù các dự án đã được chủ đầu tư giảm giá kích cầu nhưng người hỏi mua không nhiều. Thị trường chưa về đáy vì tồn kho quá lớn Nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng, lượng hàng tồn kho của thị trường bất động sản hiện nay có thể lớn hơn rất nhiều so với con số khoảng 92.690 tỷ đồng mà Bộ Xây dựng báo cáo. Họ cho rằng, thống kê của Bộ Xây dựng là tập hợp từ báo cáo của các doanh nghiệp, mới chỉ dừng lại ở thị trường sơ cấp, trong khi đó lượng hàng còn kẹt, thực tế cũng là tồn kho ở thị trường thứ cấp rất khó thống kê và mức độ là không nhỏ. Nếu chỉ xác định giá trị hàng tồn kho của các doanh nghiệp, các chủ đầu tư bán ở thị trường sơ cấp thì sẽ không chính xác. Rất nhiều nhà đầu tư gom hàng, đầu cơ và đang kẹt hàng chưa bán được cho người tiêu dùng thực sự. Đó cũng hàng tồn kho. Các chuyên gia trong ngành cũng cho rằng: Thị trường có ghi nhận lượng giao dịch tăng trở lại nhưng chỉ là lượng rất nhỏ. Nhiều khả năng thị trường vẫn chưa chạm đáy vì hàng tồn kho còn rất nhiều và cần phải xả. Đến lúc hàng tồn kho xả thì đó có thể mới là đáy của thị trường. Nếu chỉ xác định giá trị hàng tồn kho của các doanh nghiệp, các chủ đầu tư bán ở thị trường sơ cấp thì sẽ không chính xác. Rất nhiều nhà đầu tư gom hàng, đầu cơ và đang kẹt hàng chưa bán được cho người tiêu dùng thực sự. Đó cũng hàng tồn kho. Theo ông Trần Như Trung, Nguyên Phó Giám đốc Savills Việt Nam: " Phải đến giữa năm 2014, thậm chí qua năm 2014 chúng ta mới nên quay lại nhìn nhận, đánh giá thị trường được. Vì đáy chỉ được xác lập khi ta đã qua đáy". Theo ndh.vn Từ khóa: thị trường bất động sản , tồn kho , nhà đầu tư , đầu cơ , dự án , thị trường sơ cấp , người tiêu dùng , thu nhập , kích cầu Các tin đã đưa Những tín hiệu khả quan từ thị trường bất động sản Nhà băng “ngơ ngác” với gói liên minh 50.000 tỷ Gói tín dụng 50.000 tỷ và kỳ vọng triển khai trên thực tế Cứu bất động sản: Bài học từ gói 30.000 tỷ đồng vẫn treo lơ lửng! Tồn kho bất động sản: Giảm trên giấy, thực tế vẫn "ế" Giá bất động sản đến “xương”: Đã đến thời trở lại đầu tư? Dòng vốn lớn đang chảy mạnh vào bất động sản Hoang vắng khu tái định cư ngàn tỷ Cơ hội mới cho thị trường bất động sản “Loạn” gói hỗ trợ bất động sản Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng
Họ và tên: (*)
Địa chỉ Email: (*)
Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR Số ký tự còn lại: (*) Nhập mã bảo mậtTiêu điểm tài chính BẢO HIỂM HƯU TRÍ Ở VIỆT NAM
Sự già hoá của dân số Việt Nam đã tác động không nhỏ đến ngân sách chính phủ và sự bền vững tài chính của quỹ hưu trí. Thực tế này đang đang đặt ra yêu cầu cải cách hệ thống hưu trí theo hướng đảm bảo sự bền vững của hệ thống, sự cân đối của quỹ hưu trí trong dài hạn và bao phủ số đông dân số nhằm đảm bảo cuộc sống của người lao động khi đến tuổi nghỉ hưu. Đọc nhiều nhất
Phương Tây trừng phạt Nga: Lợi thì có lợi...
Chậm nộp quyết toán thuế, doanh nghiệp có thể bị xử phạt tới 200 triệu đồng
Lộ trình ATIGA đến năm 2018: Thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam
Tháo chạy, chốt lời…
“Loạn” gói hỗ trợ bất động sản Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies
View the Original article