What they says

Được tạo bởi Blogger.

Thứ Tư, 30 tháng 7, 2014

Số doanh nghiệp khó khăn trở lại hoạt động tăng 48,9%

Số doanh nghiệp khó khăn trở lại hoạt động tăng 48,9%

Thứ sáu 28/03/2014 08:26

(Tài chính) Theo Tổng cục Thống kê, số doanh nghiệp (DN) khó khăn, ngừng hoạt động, đã quay trở lại hoạt động trong quý I/2014 là 4.622 doanh nghiệp, tăng 48,9% so với quý IV/2013.

Số DN gặp khó khăn phải ngừng hoạt động, trong tháng 3 đã hoạt động trở lại là 982 DN. Nguồn: internet

Trong quý I/2014, cả nước có 18.358 DN đăng ký thành lập mới với số vốn đăng ký 97.983 tỷ đồng, tăng 16,9% về số DN và 23,4% về số  vốn đăng ký so với cùng kỳ/2013. So với quý I/2013, số DN thành lập mới và số vốn đăng ký lần lượt tăng 8,9% và tăng 3,6%.

Quý I/2014, tổng số DN gặp khó khăn phải giải thể hoặc đăng ký tạm dừng hoạt động, hoặc ngừng hoạt động nhưng không đăng ký là 16.745 DN, tăng 9,6% so với cùng kỳ/trước. Trong đó, 3.846 DN đăng ký tạm ngừng hoạt động, tăng 7,8%, có 10.318 DN ngừng hoạt động nhưng không đăng ký, tăng 9,3%, 2.581 DN giải thể, tăng 13,6%.

Số DN khó khăn, ngừng hoạt động, đã quay trở lại hoạt động trong quý I/2014 là 4.622 DN, tăng 48,9% so với quý IV/2013.

Về cơ cấu DN đăng ký theo lĩnh vực, trong quý I, những ngành có xu hướng tốt lên như: Hoạt động phục vụ cá nhân (thành lập mới tăng 52,1%, dừng hoạt động giảm 3,3%), tài chính, ngân hàng và bảo hiểm (thành lập mới tăng 18,9%, dừng hoạt động giảm 14,7%), sản xuất phân phối điện, nước, gas (thành lập mới tăng 57,3%, dừng hoạt động giảm 5,4%).

Một số ngành đang có sự tái cơ cấu mạnh mẽ như: Nghệ thuật, vui chơi và giải trí; thông tin và truyền thông; nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản; kinh doanh bất động sản… Tính riêng trong tháng 3, cả nước có 7.487 DN được thành lập mới với số vốn đăng ký 35.081 tỷ đồng, tăng 87% về số DN và tăng 82,9% về số vốn đăng ký so với tháng 2.

Tổng số DN gặp khó khăn buộc phải giải thể hoặc đăng ký tạm ngừng hoạt động có thời hạn hoặc ngừng hoạt động nhưng không đăng ký là 4.358 DN, tăng 1,6% so với tháng 2, trong đó: 740 DN đăng ký tạm ngừng hoạt động có thời hạn, giảm 18,7%.  Có 2.928 DN ngừng hoạt động nhưng không đăng ký, tăng16,4%, có 690 DN giải thể, giảm 20%.

Số DN gặp khó khăn phải ngừng hoạt động, trong tháng 3 đã hoạt động trở lại là 982 DN, giảm 28,4% so với tháng 2/2014 (1.265 DN).

Tuy nhiên, Tổng cục Thống kê đánh giá: Vẫn còn một số ngành gặp khó khăn so với cùng kỳ năm trước khi có số DN đăng ký thành lập mới tăng thấp trong khi DN gặp khó khăn phải giải thể hoặc tạm ngừng hoạt động tăng cao hơn như dịch vụ việc làm, du lịch, cho thuê máy móc thiết bị, đồ dùng và các dịch vụ hỗ trợ, xây dựng...

Theo chinhphu.vn

Từ khóa: đăng ký thành lập mới , vốn đăng ký , giải thể , tài chính , ngân hàng , bảo hiểm , tái cơ cấu , dịch vụ , xây dựng Các tin đã đưa PCI bước sang giai đoạn mới Tháo gỡ rào cản cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trong tiếp cận vốn FDI cân nhắc vào Campuchia, Lào: Báo động cho Việt Nam Số doanh nghiệp khó khăn trở lại hoạt động tăng 48,9% Tăng cường giám sát việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí Đắt như đồng vốn ODA Có không dòng “đầu tư xâm thực”? Cơ hội cho các ngành hàng xuất khẩu “Bẫy thu nhập trung bình đã trở thành thực tế cho Việt Nam” Từ nghi án hối lộ ngành đường sắt, điểm danh sách các dự án chậm tiến độ Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính BẢO HIỂM HƯU TRÍ Ở VIỆT NAM Sự già hoá của dân số Việt Nam đã tác động không nhỏ đến ngân sách chính phủ và sự bền vững tài chính của quỹ hưu trí. Thực tế này đang đang đặt ra yêu cầu cải cách hệ thống hưu trí theo hướng đảm bảo sự bền vững của hệ thống, sự cân đối của quỹ hưu trí trong dài hạn và bao phủ số đông dân số nhằm đảm bảo cuộc sống của người lao động khi đến tuổi nghỉ hưu.

Đọc nhiều nhất Phương Tây trừng phạt Nga: Lợi thì có lợi... Chậm nộp quyết toán thuế, doanh nghiệp có thể bị xử phạt tới 200 triệu đồng Lộ trình ATIGA đến năm 2018: Thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam Tháo chạy, chốt lời… “Loạn” gói hỗ trợ bất động sản Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

Chủ Nhật, 27 tháng 7, 2014

Tháo gỡ rào cản cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trong tiếp cận vốn

Tháo gỡ rào cản cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trong tiếp cận vốn

Thứ sáu 28/03/2014 11:00

PV.

(Tài chính) Trong 2 ngày từ 27-28/3, tại Hà Nội, Vụ Chính sách thương mại đa biên, Bộ Công Thương đã phối hợp với Ban Thư ký APEC tổ chức “Đối thoại Công – Tư của Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương về Giải quyết những rào cản của doanh nghiệp (DN) nhỏ và vừa (SMEs) và DN siêu nhỏ (MES) trong việc tiếp cận nguồn vốn thương mại”.

Đối thoại đã thu hút được sự tham gia của đông đảo học giả, các nhà hoạch định chính sách, ngân hàng – đại diện các nhà cho vay tín dụng, các DN và tổ chức, hiệp hội về DN trong và ngoài khu vực Châu Á- Thái Bình Dương cũng như ở Việt Nam.

Tại các nền kinh tế đang phát triển trong khu vực Châu Á- Thái Bình Dương, điển hình là Việt Nam, hiện có khảng hơn 90% tổng số DN trong nền kinh tế được xếp vào loại hình MES (hộ kinh tế gia đình) và SMEs. Sự tồn tại và phát triển của loại hình DN này đóng vai trò quan trọng, không chỉ đối với tăng trưởng kinh tế, mà còn đối với việc ổn định an sinh xã hội, tạo công ăn việc làm và phát triển bền vững của một quốc gia. Điều đáng chú ý là nhóm DN này chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng số các DN đang hoạt động kinh doanh và được đánh giá là đối tượng dễ bị tổn thương nhất trong nền kinh tế, bởi những cú sốc kinh tế, với nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan.

Bên cạnh đó, sự mở rộng phát triển của các SMEs từ trước đến nay đã và đang được đánh giá là góp phần đáng kể vào tăng trưởng GDP bình quân đầu người; bổ sung các giá trị gia tăng thực tế cho sản phẩm, tăng sản lượng sản xuất trong nền kinh tế. Đồng thời, các DN cũng góp phần phát triển các chuỗi sản xuất và chuỗi giá trị trong khu vực; ổn định nền kinh tế nhờ hoạt động dưới kinh thức các nhà thầu phụ cho các tập đoàn và DN lớn. Các DN này cũng đã đóng góp tích cực cho ngành công nghiệp và dịch vụ hỗ trợ thông qua tăng cường chuyên môn hóa trong quá trình sản xuất…

Tuy nhiên, điều đáng lưu ý là tuy các SMEs đóng vai trò quan trọng với nền kinh tế song loại hình DN này đã và đang gặp nhiều khó khăn trong quá trình phát triển sản xuất và mở rộng kinh doanh. Những khó khăn này bắt nguồn từ cả khía cạnh chính sách, quy định của Chính phủ lẫn trong thực tế hoạt động của DN. Các chính sách, quy định pháp luật của Chính phủ cùng các cơ chế cho vay hoặc hỗ trợ vốn của các tổ chức tín dụng, sự giúp đỡ, kết nối của các hiệp hội có liên quan… là những yếu tố mang tính khách quan, có tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh cũng như khả năng tồn tại và phát triển của DN.

Ngoài ra, sự nỗ lực của chính các DN trong việc nâng cao khả năng quản lý kinh doanh, công nghệ sản xuất, khả năng kết nối với các DN khác trong và ngoài nước… là yếu tố yếu định chính đến thành công của mỗi DN.

Với những phân tích về vai trò của loại hình DN này, sự đóng góp của chúng cho nền kinh tế, các khó khăn mà họ đang gặp phải, đặc biệt là trong quá trình tiếp cận nguồn vốn vay thương mại, cũng như nhằm hỗ trợ tích cực cho các SME strong APEC, việc Chính phủ và khu vực tư nhân tiếp tục tổ chức các đối thoại chính sách để tăng cường hiểu biết lẫn nhau và có sự phối hợp hài hòa, hợp lý giữa Chính phủ và khu vực tư nhân là thiết thực. Điều này góp phần tăng thêm giá trị của APEC trong lĩnh vực hợp tác về SMEs.

Với tinh thần đó, Việt Nam quyết định phối hợp với APEC tổ chức đối thoại nói trên, nhằm xây dựng và đưa ra các sáng kiến về hợp tác tài chính thực sự có lợi cho cộng đồng DN trong khu vực nói chung và của Việt Nam nói riêng, cũng như nhằm nâng cao uy tín của Việt Nam trong hợp tác kinh tế APEC.

Từ khóa: nguồn vốn , thương mại , doanh nghiệp nhỏ và vừa , cú sốc kinh tế , hợp tác tài chính , ngân hàng , chính sách , giá trị gia tăng , hợp tác kinh tế Các tin đã đưa PCI bước sang giai đoạn mới Tháo gỡ rào cản cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trong tiếp cận vốn FDI cân nhắc vào Campuchia, Lào: Báo động cho Việt Nam Số doanh nghiệp khó khăn trở lại hoạt động tăng 48,9% Tăng cường giám sát việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí Đắt như đồng vốn ODA Có không dòng “đầu tư xâm thực”? Cơ hội cho các ngành hàng xuất khẩu “Bẫy thu nhập trung bình đã trở thành thực tế cho Việt Nam” Từ nghi án hối lộ ngành đường sắt, điểm danh sách các dự án chậm tiến độ Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Refresh

Tiêu điểm tài chính BẢO HIỂM HƯU TRÍ Ở VIỆT NAM Sự già hoá của dân số Việt Nam đã tác động không nhỏ đến ngân sách chính phủ và sự bền vững tài chính của quỹ hưu trí. Thực tế này đang đang đặt ra yêu cầu cải cách hệ thống hưu trí theo hướng đảm bảo sự bền vững của hệ thống, sự cân đối của quỹ hưu trí trong dài hạn và bao phủ số đông dân số nhằm đảm bảo cuộc sống của người lao động khi đến tuổi nghỉ hưu.

Đọc nhiều nhất Phương Tây trừng phạt Nga: Lợi thì có lợi... Chậm nộp quyết toán thuế, doanh nghiệp có thể bị xử phạt tới 200 triệu đồng Lộ trình ATIGA đến năm 2018: Thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam Tháo chạy, chốt lời… “Loạn” gói hỗ trợ bất động sản Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

Thứ Bảy, 12 tháng 7, 2014

Giải đáp thắc mắc về thuế Thu nhập doanh nghiệp

Giải đáp thắc mắc về thuế Thu nhập doanh nghiệp

Thứ sáu 28/03/2014 08:00

(Tài chính) FinancePlus.vn tổng hợp một số thắc mắc của doanh nghiệp và các hộ kinh doanh về thuế Thu nhập doanh nghiệp (TNDN) vừa được Bộ Tài chính trả lời mới đây.

Câu hỏi: Em đang làm kế toán tại CTY TEKKEN CORPORATION của Nhật là nhà thầu chính thực hiện xây dựng các cây cầu giao thông nông thôn các tỉnh khu vực Miền Trung Việt Nam theo chương trình của tổ chức JICA qui định về việc sử dụng khoản viện trợ như sau: (1) Tại điều 3: Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam phải sử dụng khoản viện trợ đúng mục đích và chỉ dùng để mua các vật tư hàng hóa liên quan của Nhật bản hoặc của Việt Nam cần thiết cho việc thực hiện dự án theo như quy định trong thỏa thuận của viện trợ. (2) Tại điểm d, khoản 1, điều 10 thỏa thuận viện trợ số 1161520 nêu trên quy định về nghĩa vụ của Chính Phủ Việt Nam như sau: “d) Đảm bảo các hàng hóa và dịch vụ nêu tại điều 3 được miễn các loại phí, cảng vụ, thuế trong nước và các loại thuế tài chính khác của nước Việt Nam” tức là bao gồm luôn cả thuế TNDN. Vậy công ty em có được miễn thuế TNDN không ạ. Mong phúc đáp dùm em. Em xin cảm ơn!

Trả lời:

DN của Bạn là nhà thầu, là một DN đang hoạt động tại Việt Nam nên có nghĩa vụ trả đầy đủ các khoản thuế theo luật pháp của Việt Nam, Bạn đang hiểu sai về Hiệp định tài trợ theo chương trình có sự tham gia của JICA.

Với nội dung của Hiệp định, khoản tiền mà Ban quản lý dự án giao thông nông thôn sử dụng theo chương trình của JICS sẽ không được dùng để trang trải cho các khoản thuế. Các nhà thầu (bên B) cung cấp hàng hoá, dịch vụ cho Bên A (Ban quản lý) theo giá có thuế GTGT, Bên A sẽ dùng vốn đối ứng của Việt Nam để thanh toán cho số tiền thuế ghi trên Hóa đơn GTGT của Bên B.

Đối với bên B là DN của Bạn: Có nghĩa vụ nộp thuế TNDN dựa trên kết quả kinh doanh của mình, nghĩa là doanh thu (tiền được A thanh toán) sau khi trừ đi (-) chi chí, nếu có lãi (+) thì nộp thuế TNDN theo quy định của Luật thuế TNDN.

Bạn nên tham khảo Thông tư số 123/2007 của Bộ Tài chính để hiểu rõ hơn về thuế đối với các chương trình, dự án sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức.

Câu hỏi: Thông tư số 219/2013/TT- BTC có quy định về 26 đối tượngkhông chịu thuế GTGT, xin hỏi BTC là có phải sản phẩm phần mềm không cònthuộc đối tượng không chịu thuế nữa mà thành chịu thuế 10% từ năm 2014phải không? Và đối với Thuế TNDN thì DN phần mềm có còn đượcưu đãi thuế suất không (Thuế suất ưu đãi 10% trong thời hạn 15 năm, miễnthuế 4 năm, giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo? Xin cámơn!

Trả lời:

Căn cứ Khoản 21 Điều 4 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế GTGT và Nghịđịnh số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiếtvà hướng dẫn thi hành một số điều Luật thuế GTGT quy định đối tượngkhông chịu thuế GTGT như sau:

“Chuyển giao công nghệtheo quy định của Luật chuyển giao công nghệ; chuyển nhượng quyền sởhữu trí tuệ theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ. Trường hợp hợp đồngchuyển giao công nghệ, chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ có kèm theochuyển giao máy móc, thiết bị thì đối tượng không chịu thuế GTGT tínhtrên phần giá trị công nghệ, quyền sở hữu trí tuệ chuyển giao, chuyểnnhượng; trường hợp không tách riêng được thì thuế GTGT được tính trên cảphần giá trị công nghệ, quyền sở hữu trí tuệ chuyển giao, chuyển nhượngcùng với máy móc, thiết bị.

Phần mềm máy tính bao gồm sản phẩm phần mềm và dịch vụ phần mềm theo quy định của pháp luật”

Căncứ Nghị định số 218/2013/NĐ-CP ngày 26/12/2013 của Chính phủ quy địnhchi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Thuế TNDN quy định:

+ Tại tiết b khoản 1 Điều 15 quy định Thuế suất ưu đãi 10% trong thời hạn 15 năm áp dụng đối với:

“Thunhập của DN từ thực hiện dự án đầu tư mới thuộc các lĩnh vực:Nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; ứng dụng công nghệ caothuộc danh mục công nghệ cao được ưu tiên phát triển theo quy định củaLuật công nghệ cao; … sản xuất sản phẩm phần mềm; sản xuất vậtliệu composit, các loại vật liệu xây dựng nhẹ, vật liệu quý hiếm; sảnxuất năng lượng tái tạo, năng lượng sạch, năng lượng từ việc tiêu hủychất thải; phát triển công nghệ sinh học.

Dự án đầu tư sản xuất sản phẩm phần mềm quyđịnh tại Điểm này là dự án đầu tư sản xuất sản phẩm phần mềm thuộc danhmục sản phẩm phần mềm và đáp ứng quy trình về sản xuất sản phẩm phầnmềm theo quy định của pháp luật;”

+ Tại khoản 1 Điều 16 quy định miễn thuế 4 năm, giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo đối với:

“a) Thu nhập của DN từ thực hiện dự án đầu tư mới quy định tại Khoản 1 Điều 15 Nghị định này;”

Căn cứ các quy định nêu trên:

- Về thuế GTGT: sản phẩm phần mềm thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT.

- Về thuế TNDN: thu nhập của DN từ thực hiện dự án đầu tư mớitrong lĩnh vực sản xuất sản phẩm phần mềm thuộc danh mục sản phẩm phầnmềm và đáp ứng quy trình về sản xuất sản phẩm phần mềm theo quy định củapháp luật, được hưởng thuế suất ưu đãi 10% trong thời hạn 15 năm, miễnthuế 4 năm, giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo.

Câu hỏi: Các anh chị cho em hỏi, khi làm quyết toán thuế TNDN năm 2013 đơn vị em sẽ phải tính thuế suất như thế nào? (20% cho cả năm hay là 25% x lợi nhuận (LN) của 6 tháng đầu năm + 20% x LN của 6 tháng cuối năm). Em đang làm báo cáo tài chính mà không biết xử lý như thế nào, mong các anh chị giúp em với. Xin trân trọng cảm ơn!

Trả lời:

Câu hỏi của Bạn chưa nêu rõ DN của Bạn có quy mô doanh số thuộc loại nào, vì vậy, xin được trả lời mang tính nguyên tắc như sau:

Theo quy định của Luật thuế TNDN số 32/2013/QH13 (Khoản 6, Điều 1 và Khoản 2, Điều 2) thì DN có tổng doanh thu năm không quá 20 tỷ đồng được áp dụng thuế suất 20%. Quy định này có hiệu lực kể từ 01/07/2013. Nội dung này được quy định chi tiết tại Nghị định 92/2013/NĐ-CP ngày 13/08/2013 và được hướng dẫn tại Thông tư số 141/2013/TT-BTC ngày 16/10/2013 của Bộ Tài chính.

Căn cứ các quy định nêu trên, trường hợp DN của Bạn thuộc loại DN có mức doanh thu năm không quá 20 tỷ đồng và được áp dụng mức thuế suất 20% từ ngày 01/07/2013 thì việc kê khai, nộp thuế, quyết toán thuế thực hiện theo hướng dẫn tại Thông tư số 141/2013/TT-BTC (Điều 1, Chương I) và Công văn số 3693/TCT-CS của Tổng cục thuế hướng dẫn thực hiện quyết toán thuế năm 2013.

Nếu DN của Bạn thuộc loại DN có mức doanh thu năm trên 20 tỷ đồng thì áp dụng mức thuế suất 25%. Kể từ 01/01/2014 thì sẽ áp dụng mức thuế suất phổ thông 22% và kể từ ngày 01/01/2016 sẽ áp dụng thuế suất phổ thông là 20%.

Câu hỏi: “Theo Nghị định số 218/2013/NĐ-CP ngày 26/12/2013 đã bãi bỏ Điều 2,3 trong Nghị định số 92/2013/NĐ-CP rồi. Cụ thể DN áp dụng thuế suất 20% được tính kể từ ngày 01/01/2014. Theo hướng dẫn trên được tính từ ngày 01/7/2013. Vậy có mâu thuẫn không?”.

Trả lời:

Điều này không mâu thuẫn vì: Nghị định số 92/2013/NĐ-CP áp dụng trong thời gian từ ngày 1/7/2013 đến ngày 31/12/2013. Nghị định 218/2013/NĐ-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/02/2014 và áp dụng cho kỳ tính thuế từ năm 2014 trở đi.


Theo mof.gov.vn

Từ khóa: chính sách thuế , hỏi đáp chính sách thuế , thuế thu nhập cá nhân , thuế thu nhập doanh nghiệp , thuế giá trị gia tăng Các tin đã đưa Giải đáp thắc mắc về thuế Thu nhập doanh nghiệp Giải đáp thắc mắc về Thuế Giá trị gia tăng Bộ Tài chính trả lời cử tri TP. Hồ Chí Minh về trái phiếu bán lẻ cho người dân Giải đáp thắc mắc liên quan đến Thuế thu nhập cá nhân Hướng dẫn thuế thu nhập cá nhân, thuế nhà thầu Thiếu điều kiện có được công nhận địa điểm kiểm tra tại nơi sản xuất? Bộ Tài chính trả lời cử tri Sóc Trăng về bồi thường bảo hiểm tôm Bộ Tài chính trả lời kiến nghị cử tri Tây Ninh về ngưỡng an toàn nợ công Hướng dẫn về việc thực hiện thủ tục và thời gian hoàn thuế Giá trị gia tăng Giám sát và công khai hiệu quả hoạt động của SCIC Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Refresh

Tiêu điểm tài chính BẢO HIỂM HƯU TRÍ Ở VIỆT NAM Sự già hoá của dân số Việt Nam đã tác động không nhỏ đến ngân sách chính phủ và sự bền vững tài chính của quỹ hưu trí. Thực tế này đang đang đặt ra yêu cầu cải cách hệ thống hưu trí theo hướng đảm bảo sự bền vững của hệ thống, sự cân đối của quỹ hưu trí trong dài hạn và bao phủ số đông dân số nhằm đảm bảo cuộc sống của người lao động khi đến tuổi nghỉ hưu.

Đọc nhiều nhất Phương Tây trừng phạt Nga: Lợi thì có lợi... Chậm nộp quyết toán thuế, doanh nghiệp có thể bị xử phạt tới 200 triệu đồng Lộ trình ATIGA đến năm 2018: Thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam Tháo chạy, chốt lời… “Loạn” gói hỗ trợ bất động sản Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

Thứ Sáu, 2 tháng 5, 2014

Những giải pháp tài chính nhằm tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô, tháo gỡ khó khăn cho sản xuất - kinh doanh, hỗ trợ thị trường năm 2013

Những giải pháp tài chính nhằm tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô, tháo gỡ khó khăn cho sản xuất - kinh doanh, hỗ trợ thị trường năm 2013

Thứ hai 27/01/2014 08:00

Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng

(Tài chính) Nhiệm vụ tài chính – ngân sách nhà nước (NSNN) năm 2013 được thực hiện trong bối cảnh tình hình kinh tế trong nước mặc dù có những chuyển biến tích cực, đúng hướng nhưng khó khăn, thách thức vẫn còn nhiều. Yêu cầu từng bước tái cơ cấu nền kinh tế, hoàn thiện thể chế, tháo gỡ khó khăn để khuyến khích đầu tư, sản xuất – kinh doanh (SXKD), đồng thời vẫn phải bảo đảm an sinh xã hội là yếu tố chính, chi phối công tác điều hành NSNN năm 2013.

Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng thăm và động viên cán bộ Cục Thuế TP. Hồ Chí Minh. Nguồn: internet

Trên cơ sở đánh giá, nhận định tình hình thực tế, ngay từ những ngày đầu năm 2013, Bộ Tài chính đã chủ động, tích cực tham mưu với Chính phủ ban hành các Nghị quyết về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán NSNN năm 2013; Các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho SXKD, hỗ trợ thị trường, giải quyết nợ xấu; Đồng thời, khẩn trương chỉ đạo triển khai các nhiệm vụ tài chính - NSNN được Chính phủ phân công.

Dưới sự chỉ đạo, điều hành kiên quyết của Chính phủ, sự vào cuộc của cấp ủy chính quyền các địa phương, sự ủng hộ và nỗ lực vươn lên của cộng đồng doanh nghiệp (DN) và nhân dân, tình hình kinh tế - xã hội năm 2013 tiếp tục chuyển biến tích cực. Kinh tế vĩ mô được cải thiện. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng 5,42% so với năm 2012, xấp xỉ mục tiêu đề ra. Lạm phát được kiểm soát, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) cả năm tăng 6,04% so với cuối năm 2012.

Đây là năm có chỉ số giá tiêu dùng tăng thấp nhất trong 10 năm trở lại đây. Xuất khẩu tăng nhanh, cân đối thương mại ổn định, đây là năm thứ 2 liên tiếp Việt Nam xuất siêu. Thu hút đầu tư nước ngoài từ đầu năm đến 15/12/2013 có những chuyển biến tích cực, ước tính đạt 21,6 tỷ USD, tăng 54,5% so với cùng kỳ năm trước... Mặc dù vậy, SXKD của nhiều DN vẫn còn hết sức khó khăn, công nghiệp tăng trưởng còn chậm, nợ xấu còn cao, số DN giải thể, ngừng hoạt động còn lớn...

Trong điều kiện hoạt động SXKD, tiêu thụ hàng hóa còn khó khăn, phải tiếp tục thực hiện miễn, giảm, giãn thuế để hỗ trợ DN thì nhiệm vụ NSNN năm 2013 được giao là khá nặng nề. Mặc dù vậy, thu năm 2013 vẫn đạt 101% dự toán, tăng 10% so với cùng kỳ; chi ngân sách đạt 100,8% dự toán, đảm bảo các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và đảm bảo an sinh xã hội; Phấn đấu cả năm đạt và vượt mức đánh giá thu, chi ngân sách đã báo cáo Quốc hội; Nợ chính phủ, nợ công, nợ nước ngoài của quốc gia trong giới hạn an toàn.

Để đạt được kết quả thu, chi NSNN nêu trên, Ngành Tài chính đã triển khai tích cực các giải pháp chủ yếu sau:

1. Khẩn trương thực hiện các giải pháp về thuế tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy phát triển sản xuất – kinh doanh.

Đến nay, có gần 106,35 nghìn lượt DN được gia hạn nộp thuế giá trị gia tăng (GTGT), với trên 4.430 tỷ đồng tiền thuế được gia hạn; Trên 85.000 lượt DN được gia hạn nộp thuế thu nhập DN (TNDN), với khoảng 3.020 tỷ đồng tiền thuế được gia hạn. Giải pháp này đã góp phần, tạo điều kiện cho các DN vượt qua khó khăn, giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành và đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm.

Bên cạnh đó, Bộ Tài chính đã tham mưu cho Chính phủ trình Quốc hội thông qua các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TNDN, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT... với những quy định ưu đãi hơn cho người nộp thuế.

2. Tập trung điều hành thu tích cực, chi tiêu chặt chẽ, tiết kiệm, tăng cường kỷ luật, kỷ cương tài chính.

Về thu NSNN, Bộ Tài chính đã chủ động phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, cấp uỷ và chính quyền địa phương, động viên và tranh thủ sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị để triển khai nhiệm vụ thu mà Quốc hội, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đã giao. Đồng thời, tập trung chỉ đạo hệ thống Thuế, hệ thống Hải quan:

(i) Tăng cường công tác quản lý thu, khai thác nguồn thu, chống thất thu, giảm nợ đọng thuế; chủ động đề xuất các giải pháp quản lý hiệu quả, phát hiện kịp thời các khoản khai thác tăng thu, các địa bàn còn thất thu, để có biện pháp quản lý thu phù hợp;

(ii) Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra thuế tại các DN và các hoạt động chống chuyển giá, chống buôn lậu và gian lận thương mại;

(iii) Đẩy nhanh việc xử lý nợ đọng thuế nội địa theo đúng quy định của pháp luật, phấn đấu năm 2013 giảm số nợ đọng xuống dưới 5% tổng số thu phát sinh;

(iv) Thực hiện đôn đốc thu đủ, thu kịp thời số tiền truy thu, tiền phạt, tiền nợ thuế vào NSNN và các khoản thu theo kết luận, kiến nghị của cơ quan Kiểm toán Nhà nước, Thanh tra Chính phủ và các cơ quan bảo vệ pháp luật khác;

(v) Chấn chỉnh công tác hoàn thuế; Thành lập các đoàn thanh tra về khấu trừ, hoàn thuế GTGT trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên và Tây Nam bộ; Tăng cường phối hợp với các cơ quan chức năng, đặc biệt là lực lượng cảnh sát điều tra để trao đổi thông tin, điều tra khởi tố các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm về thuế; Xử lý kịp thời, nghiêm minh các trường hợp vi phạm. Từ đó, phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ thu NSNN năm 2013.

Về điều hành chi NSNN, quán triệt chủ trương chặt chẽ, tiết kiệm, Bộ Tài chính đã trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 09/CT-TTg về việc tăng cường chỉ đạo điều hành thực hiện nhiệm vụ tài chính - NSNN năm 2013, với trọng tâm yêu cầu là các bộ, ngành, địa phương phải đẩy mạnh việc rà soát, cắt giảm các nhiệm vụ chi chưa thực sự cần thiết; Thực hiện tiết kiệm thêm 10% dự toán chi thường xuyên còn lại của 7 tháng cuối năm 2013 (tổng số khoảng 3.100 tỷ đồng); Điều hành chi phù hợp với khả năng thu NSNN;

Hạn chế tối đa các khoản bổ sung ngoài dự toán ngân sách. Cơ quan tài chính các cấp và Kho bạc Nhà nước tăng cường công tác kiểm soát chi NSNN, đảm bảo chặt chẽ, đúng mục đích và đối tượng, hiệu quả (tính đến hết tháng 11/2013, hệ thống KBNN đã thực hiện kiểm soát chi đối với gần 495.900 tỷ đồng chi thường xuyên của NSNN; Đã phát hiện trên 53.050 khoản chi của gần 23.950 lượt đơn vị chưa chấp hành đúng thủ tục, chế độ quy định; Tạm dừng chưa thanh toán với số tiền gần 1.000 tỷ đồng chưa đủ điều kiện chi theo quy định);

Duy trì thường xuyên các đoàn thanh tra, kiểm tra việc sử dụng ngân sách tại đơn vị sử dụng ngân sách, chủ đầu tư; Kiểm tra thực hiện các chính sách an sinh xã hội ở một số địa phương... để phát hiện, chấn chỉnh và xử lý kịp thời các sai phạm. Bên cạnh đó, Bộ Tài chính cũng đã trình và được Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí để hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho việc triển khai thực hiện tốt hơn nhiệm vụ quan trọng này.

3. Tăng cường công tác quản lý giá, đặc biệt là giá xăng dầu, điện, than, giá dịch vụ giáo dục và y tế … theo cơ chế thị trường với lộ trình thích hợp, bảo đảm mục tiêu kiềm chế lạm phát.

Đồng thời, tăng cường phối hợp với các bộ, cơ quan và địa phương trong công tác quản lý giá cả, thị trường; Không để xảy ra tình trạng đầu cơ, găm hàng, tăng giá bất hợp lý, tuỳ tiện; Kiểm soát chặt chẽ việc tuân thủ các quy định pháp luật về quản lý giá trên địa bàn. Phối hợp tăng cường công tác thông tin tuyên truyền nhằm tạo sự đồng thuận trong xã hội.

4. Đảm bảo thực hiện các chính sách an sinh xã hội.

Trong năm 2013, trong điều kiện thu khó khăn, NSNN vẫn luôn đảm bảo nguồn đáp ứng kịp thời các nhu cầu chi theo dự toán, bao gồm cả chi đảm bảo an sinh xã hội và phúc lợi xã hội; Đã đảm bảo nguồn kinh phí thực hiện chính sách tăng lương cơ sở (từ 1.050.000 đồng/tháng lên 1.150.000 đồng/tháng) từ 1/7/2013 và bổ sung kinh phí cho công tác phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh...

Bên cạnh đó, thực hiện các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính đã xuất cấp gần 60 nghìn tấn gạo dự trữ quốc gia để cứu trợ cho nhân dân ở những vùng bị thiếu đói, giáp hạt; Góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ, đảm bảo an sinh xã hội. Đồng thời, Bộ Tài chính đã chỉ đạo tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chính sách an sinh xã hội, đảm bảo thực hiện đầy đủ, kịp thời các chính sách cho các đối tượng thụ hưởng; các bộ, ngành, địa phương chủ động thực hiện rà soát, để loại bỏ các chính sách trùng lặp.

5. Nỗ lực hoàn thành các nhiệm vụ để thực hiện các đột phá chiến lược gắn với tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng.

Về đầu tư công, Bộ Tài chính đã chủ động tham gia phối hợp với các bộ chức năng trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị về tăng cường quản lý đầu tư và xử lý nợ đọng xây dựng cơ bản từ nguồn NSNN, trái phiếu chính phủ; Sửa đổi quy định về hợp tác công tư; Thực hiện rà soát, hoàn thiện pháp lý, cơ chế chính sách về phân cấp và quản lý đầu tư công; Rà soát danh mục các dự án kết cấu hạ tầng quốc gia; Thực hiện thẩm tra việc phân bổ, giao kế hoạch vốn năm 2013.

Bên cạnh đó, Bộ Tài chính tiếp tục triển khai tái cấu trúc thị trường chứng khoán và DN bảo hiểm: tăng cường kiểm tra đối với các tổ chức kinh doanh chứng khoán có vấn đề về an toàn tài chính, thanh khoản; vi phạm các quy định về giao dịch, bảo vệ tài sản của nhà đầu tư; Tăng cường công tác giám sát giao dịch, kịp thời phát hiện các dấu hiệu giao dịch bất thường, thao túng giá chứng khoán; Tiếp tục đôn đốc thực hiện theo tiến độ các đề án tái cơ cấu của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước đã được phê duyệt.

Đánh giá chung, trong điều kiện còn nhiều khó khăn, thách thức, nhiệm vụ tài chính – NSNN được giao khá nặng nề, nhưng toàn ngành Tài chính đã chủ động đề xuất, tập trung phấn đấu thực hiện nghiêm và đồng bộ các giải pháp mà Chính phủ đã đề ra đối với công tác điều hành nhiệm vụ tài chính – NSNN.

Tăng cường công tác phối hợp giữa các ngành, cấp ủy và chính quyền địa phương để phấn đấu tăng thu, điều hành chi tiêu chặt chẽ, tiết kiệm, từng bước nâng cao kỷ luật kỷ cương tài chính; Triển khai tích cực các yêu cầu về cải cách thể chế, thủ tục hành chính, thực hiện tái cấu trúc nền kinh tế... từ đó, góp phần tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát và tháo gỡ khó khăn cho sản xuất - kinh doanh, hỗ trợ thị trường.

Bài đăng trên Tạp chí Tài chính số 1 - 2014

Từ khóa: Nhiệm vụ tài chính – ngân sách nhà nước , chính sách tài chính , kinh tế vĩ mô , tái cơ cấu nền kinh tế , sản xuất – kinh doanh , đầu tư , cộng đồng doanh nghiệp , quản lý giá , an sinh xã hội Các tin đã đưa Chuẩn bị cho quá trình phục hồi 3 điểm sáng của thu hút FDI năm 2013 Những giải pháp tài chính nhằm tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô, tháo gỡ khó khăn cho sản xuất - kinh doanh, hỗ trợ thị trường năm 2013 Khó khăn không ngăn kỳ vọng Đẩy mạnh tái cấu trúc hiệu quả thị trường tài chính gắn với tái cơ cấu nền kinh tế Lo ngại áp dụng PPP tùy tiện WTO: "thuyền thúng" và "đại dương" Fitch nâng triển vọng tín nhiệm Việt Nam lên “tích cực” FDI có phải là "thần dược" cho Việt Nam? Thiết lập cơ chế một cửa giải quyết thủ tục đầu tư Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính NHÌN LẠI CHẶNG ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2011 – 2013 Nhìn lại các kết quả đạt được trong nửa chặng đường Kế hoạch 5 năm (2011-2013) sẽ cho phép chúng ta xác định rõ hơn nữa những hạn chế và có những giải pháp thiết thực để thực hiện thành công các mục tiêu của Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 2011-2015 trong 2 năm còn lại.

Đọc nhiều nhất Công ty cổ phần xi măng Yên Bình đăng ký giao dịch cổ phiếu phổ thông Thị trường chứng khoán Việt Nam: Ấn tượng 2013, kỳ vọng 2014 3 điểm sáng của thu hút FDI năm 2013 Chuẩn bị cho quá trình phục hồi Giảm giá dầu 311 đồng/lít, giữ nguyên giá xăng Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

Thứ Sáu, 18 tháng 4, 2014

Một số quy định đối với doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh được tự in hóa đơn

Một số quy định đối với doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh được tự in hóa đơn

Thứ tư 22/01/2014 15:14

PV.

(Tài chính) Từ ngày 01/3/2014, doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật trong khu công nghiệp, khu kinh tế, khu chế xuất, khu công nghệ cao; doanh nghiệp có mức vốn điều lệ theo quy định của Bộ Tài chính; các đơn vị sự nghiệp công lập có sản xuất, kinh doanh theo quy định của pháp luật được tự in hóa đơn kể từ khi có mã số thuế.

Ảnh minh họa. Nguồn: internet

Ngoài ra, các tổ chức kinh doanh cũng được tự in hóa đơn để sử dụng cho việc bán hàng hóa, dịch vụ nếu có đủ các điều kiện sau: Đã được cấp mã số thuế; Có doanh thu bán hàng hóa, dịch vụ; Không bị xử phạt về các hành vi vi phạm pháp luật về thuế theo mức do Bộ Tài chính quy định trong 365 ngày liên tục tính đến ngày thông báo phát hành hóa đơn tự in; Có hệ thống thiết bị đảm bảo cho việc in và lập hóa đơn khi bán hàng hóa, dịch vụ; Là đơn vị kế toán theo quy định của Luật kế toán và có phần mềm bán hàng hóa, dịch vụ gắn liền với phần mềm kế toán, đảm bảo việc in và lập hóa đơn chỉ được thực hiện khi nghiệp vụ kế toán phát sinh; Có văn bản đề nghị sử dụng hóa đơn tự in và được sự chấp thuận cơ quan thuế. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, cơ quan thuế quản lý trực tiếp phải có ý kiến về việc đăng ký sử dụng hóa đơn tự in của doanh nghiệp.

Hóa đơn tự in đảm bảo nguyên tắc mỗi số hóa đơn chỉ được lập một lần. Số lượng liên hóa đơn được in căn cứ vào yêu cầu sử dụng cụ thể của nghiệp vụ bán hàng. Tổ chức có trách nhiệm tự quy định bằng văn bản về số lượng liên hóa đơn.

Đối với các doanh nghiệp vi phạm về quản lý, sử dụng hóa đơn; doanh nghiệp có rủi ro cao về việc chấp hành pháp luật thuế, Bộ Tài chính căn cứ quy định của pháp luật về quản lý thuế và pháp luật về công nghệ thông tin thực hiện biện pháp giám sát, quản lý phù hợp nhằm thực hiện đúng quy định của pháp luật về hóa đơn.

Bên cạnh đó, trường hợp doanh nghiệp đang sử dụng hóa đơn tự in có hành vi vi phạm về hóa đơn bị xử lý vi phạm hành chính về hành vi trốn thuế, gian lận thuế hoặc doanh nghiệp thuộc loại rủi ro cao về thuế theo quy định tại Luật quản lý thuế thì không được sử dụng hóa đơn tự in mà phải thực hiện mua hóa đơn của cơ quan thuế có thời hạn. Thời điểm không được sử dụng hóa đơn tự in được tính từ ngày Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trốn thuế, gian lận thuế có hiệu lực thi hành (đối với doanh nghiệp có hành vi vi phạm về hóa đơn dẫn đến trốn thuế, gian lận thuế) hoặc kể từ thời điểm cơ quan thuế yêu cầu (đối với doanh nghiệp thuộc loại rủi ro cao về thuế).

Trước khi đặt in hóa đơn lần đầu, tổ chức có hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp (trừ đối tượng đủ điều kiện được tạo hóa đơn đặt in) phải gửi đến cơ quan thuế quản lý trực tiếp văn bản đăng ký sử dụng hóa đơn đặt in. Trong thời hạn 5 ngày làm việc cơ quan thuế quản lý trực tiếp phải có ý kiến về việc đăng ký sử dụng hóa đơn đặt in của doanh nghiệp.

Ngoài ra, tổ chức nhận in hóa đơn có trách nhiệm in hóa đơn theo đúng hợp đồng đã ký; không được giao lại toàn bộ hoặc bất kỳ khâu nào trong quá trình in hóa đơn cho tổ chức in khác thực hiện; Quản lý, bảo quản và xử lý khuôn in, phôi in, hóa đơn đã in và các hóa đơn in hỏng theo thỏa thuận giữa hai bên và theo quy định của pháp luật; Thanh lý hợp đồng in với tổ chức, cá nhân đặt in hóa đơn và tiến hành xử lý khuôn in, phế phẩm theo quy định của Bộ Tài chính; Định kỳ 3 tháng, báo cáo việc nhận in hóa đơn gửi cơ quan thuế trực tiếp quản lý.

Các doanh nghiệp mua hóa đơn của cơ quan thuế trong thời gian 12 tháng. Hết thời gian 12 tháng, nếu đáp ứng điều kiện tự in hoặc đặt in hóa đơn, cơ quan thuế thông báo doanh nghiệp chuyển sang tự tạo hóa đơn để sử dụng hoặc tiếp tục mua hóa đơn của cơ quan thuế nếu không đáp ứng điều kiện tự in hoặc đặt in hóa đơn.

Từ khóa: hóa đơn tự in , mã số thuế , rủi ro , pháp luật thuế , Luật Quản lý thuế , trốn thuế , gian lận thuế , hợp đồng Các tin đã đưa Vi phạm hành chính về hóa đơn bị phạt tối đa 50 triệu đồng Bộ Tài chính chỉ thị về việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí dịp Tết Nguyên Đán Lệ phí xin cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh trò chơi điện tử có thưởng Hướng dẫn một số điều quy định tại Nghị định số 86/2013/NĐ-CP Mức thu phí trông giữ ô tô không được quá 40.000 đồng/lượt Chuyển nhượng vốn đầu tư ra ngoài doanh nghiệp phải theo giá thị trường Một số quy định đối với doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh được tự in hóa đơn Sớm khắc phục kẽ hở của thông quan điện tử Giá tính thuế giá trị gia tăng là giá bán đã có thuế bảo vệ môi trường Đối tượng nào không phải chịu thuế Giá trị gia tăng? Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính NHÌN LẠI CHẶNG ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2011 – 2013 Nhìn lại các kết quả đạt được trong nửa chặng đường Kế hoạch 5 năm (2011-2013) sẽ cho phép chúng ta xác định rõ hơn nữa những hạn chế và có những giải pháp thiết thực để thực hiện thành công các mục tiêu của Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 2011-2015 trong 2 năm còn lại.

Đọc nhiều nhất Giải pháp tài chính tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô Ngành Thuế: Tạo động lực quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ thu 2014 Tập trung thực hiện 5 nhiệm vụ trọng tâm của ngành Tài chính trong năm 2014 (*) EU muốn tạo thêm việc làm trong lĩnh vực kỹ thuật số 2013 – Năm chạy đua của các cường quốc Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article