What they says

Được tạo bởi Blogger.

Thứ Sáu, 6 tháng 6, 2014

Áp lực nguồn cung và giảm giá!

Thị trường bất động sản:

Áp lực nguồn cung và giảm giá!

Thứ tư 12/02/2014 08:00

Phùng Tuấn

(Tài chính) Trong báo cáo mới nhất về thị trường bất động sản (BĐS) của Công ty Cushman & Wakefield Việt Nam cho thấy trong thời gian tới, các phân khúc của thị trường BĐS ở hai đầu đất nước là Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh tuy có dấu hiệu hồi phục song vẫn đứng trước áp ứng lục nguồn cung quá nhiều trong khi giá sẽ tiếp tục giảm.

Tin liên quan:

Báo cáo tổng kết thị trường bất động sản quý IV/2013 của Cushman & Wakefield Báo cáo nghiên cứu thị trường bất động sản quý III/2013 của Cushman & Wakefield Việt Nam Cushman & Wakefield triển khai các dịch vụ tiếp thị toàn cầu cho Trung tâm Thương mại thế giới

Phân khúc văn phòng: Nhiều ưu đãi để hút khách

Nghiên cứu vừa được Cushman & Wakefield Việt Nam công bố hôm 21/1/2014 cho thấy, tại Hà Nội, xét về phân khúc văn phòng, giá chào thuê trung bình cho tất cả các hạng được kì vọng sẽ giảm trong ngắn và trung hạn do một số lượng cung lớn gia nhập thị trường, đặc biệt là các tòa văn phòng nằm ngoài khu trung tâm thành phố.

DỰ BÁO TÌNH HÌNH VĂN PHÒNG CHO THUÊ TẠI HÀ NỘI
Nguồn: Cushman & Wakefield Việt Nam

Dự báo đến năm 2015 sẽ có khoảng 675.000 m2 văn phòng các hạng sẽ gia nhập thị trường, trong đó 97% trong tổng nguồn cung sẽ nằm ngoải khu vực trung tâm. Với giá thuê cạnh tranh và nhiều ưu đãi từ phía chủ đầu tư, các văn phòng nằm ở phía Tây Hà Nội sẽ vẫn thu hút khách hàng và giá thuê được kì vọng sẽ tiếp tục giảm trong năm 2014.

Với mặt sàn trung bình gần 550 m2, Sunny Tower - tòa nhà văn phòng mới duy nhất gia nhập thị trường BĐS TP. Hồ Chí Minh trong quý I/2014, cung cấp khoảng 12.000 m2 diện tích văn phòng hạng B, sẽ là một trong số ít các tòa nhà văn phòng có thể đáp ứng nhu cầu mặt bằng 1.000 m2 trên một hoặc nhiều sàn liên tiếp. Trong khi đó, tại phân khúc văn phòng hạng A và B, mặt bằng trên 1.000 m2 vô cùng hạn chế.

Theo Cushman & Wakefield Việt Nam

Tại thị trường TP. Hồ Chí Minh, nhu cầu đối với diện tích văn phòng tại khu trung tâm hiện vẫn duy trì ở mức cao so với các khu vực khác. Tuy nhiên, diện tích trống tại khu vực trung tâm ngày càng giảm, buộc các khách thuê phải tìm đến các khu vực kém trọng điểm hơn. Do đó, nhiều ưu đãi được tung ra từ các chủ đầu tư tại khu vực này nhằm thu hút khách thuê.

Mặt bằng bán lẻ: Nguồn cung nhiều, giá thuê giảm

Về mặt bằng bán lẻ, thị trường BĐS Hà Nội sẽ tiếp tục đón nhận nguồn cung mới đến năm 2015 khi có nhiều dự án mới sẽ được hoàn thành với tổng diện tích tới 1,5 triệu m2 tới cuối năm 2015. Hầu hết các mặt bằng bán lẻ trong tương lai sẽ nằm ngoài khu vực trung tâm. “Tổng cung sẽ tiếp tục vượt tổng cầu và rất ít khách thuê trên thị trường hiện hữu muốn mở rộng thêm diện tích; do vậy, giá thuê và tỷ lệ lấp đầy mặt bằng tại Hà Nội được dự báo sẽ chịu áp lực và tiếp tục sụt giảm”, báo cáo nghiên cứu của Cushman & Wakefield Việt Nam khẳng định.

Trong khi đó, tại TP. Hồ Chí Minh, trong vòng 5 đến 7 năm nữa, khoảng 1,5 triệu m2 diện tích bán lẻ sẽ gia nhập thị trường, tăng tổng cung lên gấp 200%. Chưa rõ nguồn cung mới này có thể được thị trường tiêu thụ hết hay không nhưng rõ ràng sẽ tạo áp lực lên giá thuê. Nền kinh tế Việt Nam đã cho thấy nhiều dấu hiệu phục hồi, tạo tiền đề để kích cầu trong trung hạn song một số mặt bằng vẫn còn lộ rõ nhiều yếu kém, không có mặt bằng và thiết kế thích hợp với nhu cầu của khách thuê. Tại TP. Hồ Chí Minh, nhu cầu thuê mặt bằng bán lẻ khu trung tâm sẽ còn cao trong trung và ngắn hạn. Tuy nhiên, xét đến tình trạng khan hiếm nguồn cung và giá đất cao, phần lớn lượng diện tích bán lẻ ra mắt trong thời gian tới sẽ tập trung chủ yếu tại khu vực ngoại trung tâm và khu vực ngoại ô.

Căn hộ bán: Thị trường thuộc về người mua

Về căn bộ bán, Cushman & Wakefield Việt Nam dự đoán, với những dự báo về tình hình kinh tế sáng sủa hơn cùng với những chính sách kích cầu của Chính phủ, thị trường căn hộ bán ở Thủ đô Hà Nội sẽ được kỳ vọng chứng kiến sự phục hồi. Tuy nhiên, giá chào bán được dự báo vẫn sẽ tiếp tục giảm trong ngắn hạn do lượng cung hiện hữu trên thị trường vẫn còn lớn. Những dự án có vị trí tốt và giá hợp lý vẫn sẽ thu hút người mua.

TÌNH HÌNH CĂN HỘ BÁN TẠI HÀ NỘI
Nguồn: Cushman & Wakefield Việt Nam

Trong khi đó, các nhà đầu tư thị trường căn hộ ở TP. Hồ Chí Minh đã và đang đưa ra nhiều gói kích cầu hấp dẫn, kèm theo tiến độ thanh toán linh hoạt nhằm kích thích người mua. Để đạt được hiệu quả bán hàng tốt nhất, các chủ đầu tư đang có xu hướng tung bán các dự án đã hoàn thiện thay vì các dự án đang xây dựng. Và điều quan trọng nhất, năm 2014 được dự đoán sẽ tiếp tục là thị trường thuộc về người mua và xu hướng giá giảm được đự đoán là vẫn tiếp tục diễn ra.

Căn hộ dịch vụ: Giá thuê trước áp lực giảm mạnh!

Phân khúc căn hộ dịch vụ tại TP. Hà Nội được dự báo sẽ có xu hướng chuyển đổi từ căn hộ bán sang căn hộ cho thuê trong thời gian tới. Do đó, nguồn cung được mong chờ sẽ tiếp tục tăng trong ngắn hạn. Dự báo, cuối năm 2014 thị trường căn hộ dịch vụ sẽ có thêm xấp xỉ 600 căn hộ gia nhập thị trường, trong đó 43% tổng nguồn cung sẽ nằm ở quận Ba Đình. Việc này sẽ có tác động không thể tránh khỏi đến việc giảm tỉ lệ thuê.

Trong khi đó, theo dự tính, thị trường căn hộ dịch vụ tại TP. Hồ Chí Minh sẽ chào đón thêm gần 500 căn hộ trong vòng hai năm tới. Do thị trường căn hộ bán trầm lắng (khiến nhiều chủ đầu tư đang có xu hướng chuyển đổi mục đích sử dụng sang căn hộ cho thuê), giá thuê sẽ còn đứng trước áp lực giảm mạnh trong thời gian tới. “Do tình hình kinh tế ảm đạm, nhiều công ty đa quốc gia liên tục cắt giảm trợ cấp nhà ở cho nhân viên. Những căn hộ dịch vụ diện tích nhỏ, có giá cả phải chăng sẽ tiếp tục được tìm kiếm nhiều nhất trong trung hạn và ngắn hạn. Phần lớn khách thuê chọn khu trung tâm làm nơi cư trú và xu hướng này sẽ còn tiếp tục trong thời gian tới”, báo cáo của Cushman & Wakefield Việt Nam nhấn mạnh.

Khu công nghiệp: Nguồn cung tăng, hoạt động cho thuê trầm lắng

Tại các khu công nghiệp (KCN) ở TP. Hồ Chí Minh, hoạt động cho thuê được dự đoán sẽ tiếp tục trầm lắng trong những năm tới do nguồn vốn FDI đang có xu hướng giảm. Điều này sẽ là gây áp lực lên giá thuê. Từ nay đến năm 2020, tổng nguồn cung ước tính sẽ tăng lên khoảng 3.000 ha, tăng 85% so với nguồn cung hiện tại. Về số lượng các KCN, sẽ có khoảng 30 KCN mới lẫn các KCN mở rộng đi vào hoạt động, tăng 12 KCN so với nguồn cung tại thời điểm quý IV/2013. Đa phần các dự án tương lai đang trong quá trình giải phóng mặt bằng, đền bù và đợi được phê duyệt. Trong khi đó, tại Hà Nội, đến năm 2030 sẽ có 33 KCN với diện tích khoảng 8000 ha. Các lĩnh vực thu hút đầu tư bao gồm ngành công nghiệp phụ trợ, các ngành công nghệ cao và thân thiện với môi trường. Trong quý I này, giai đoạn 1 KCN HANSSIP được dự báo sẽ đi vào hoạt động, tiếp tục mang đến nguồn cung lớn cho thị trường.

Từ khóa: Cushman & Wakefield , khu công nghiệp , mặt bằng , căn hộ , văn phòng , TP HCM , kích cầu , Hà Nội Các tin đã đưa Bất động sản 2014: "Ấm áp" nhờ quy hoạch Giá giao dịch căn hộ chung cư tăng nhẹ: Vừa mừng, vừa lo Áp lực nguồn cung và giảm giá! Gói 30.000 tỷ đồng, tăng thời hạn cho vay là chưa đủ Vẫn muốn “đẻ” thêm ngân hàng làm gì? Đầu năm, bàn về tính minh bạch trên thị trường địa ốc Mua chung cư sẽ được sở hữu vĩnh viễn…? "Lợi ích nhóm" trong tính diện tích căn hộ? Làm nhà giá rẻ, đại gia sống khỏe Điểm mặt các dự án nhà ở xã hội năm 2014 Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính KINH TẾ - TÀI CHÍNH VIỆT NAM: THÀNH TỰU NĂM 2013 - TRIỂN VỌNG NĂM 2014 Năm 2013 đi qua, để lại nhiều dấu ấn trong công tác điều hành của Chính phủ nói chung và Bộ Tài chính nói riêng, qua đó góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ thu ngân sách, ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển. Thời gian tới, dự báo tình hình kinh tế - tài chính vẫn còn gặp nhiều khó khăn, song vẫn không ít động lực và niềm tin để tin rằng sẽ “Mã đáo thành công” trong năm Giáp Ngọ 2014.

Đọc nhiều nhất Thực hiện dự toán NSNN tháng đầu năm 2014 Dùng hóa đơn Giá trị gia tăng giả chiếm đoạt tiền ngân hàng Nhìn nhận cơ hội và thách thức của Việt Nam trong TPP Cơ quan Tổng cục Thuế phát động đợt thi đua quý I/2014 Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân thăm và làm việc với Tổng cục Thuế Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

Thứ Sáu, 11 tháng 4, 2014

Chủ động tăng nguồn hàng phục vụ Tết

Chủ động tăng nguồn hàng phục vụ Tết

Thứ sáu 17/01/2014 09:00

(Tài chính) Các doanh nghiệp (DN) tham gia chương trình bình ổn giá cam kết đảm bảo cung ứng đủ lượng hàng hóa tiêu dùng thiết yếu trong dịp Tết Nguyên đán 2014.

Người dân huyện Gia Lâm mua hàng bình ổn giá tại phiên chợ Việt. Nguồn: internet

Đó là khẳng định của lãnh đạo Sở Công Thương Hà Nội tại buổi làm việc hôm qua (16/1/2014) với Ban Kinh tế Ngân sách HĐND TP. Hà Nội về chương trình bình ổn giá TP. Hà Nội.

Tăng nguồn cung

Báo cáo của Sở Công Thương cho thấy, 13 DN tham gia chương trình luôn đảm bảo dự trữ lượng hàng hóa tương ứng với số vốn 318 tỷ đồng được thành phốtạm ứng. Đồng thời cam kết giá các mặt hàng thuộc bình ổn giá thấp hơn từ 5 - 10% so với giá trên thị trường.

Thực tế tiêu dùng của người dân trong dịp Tết Nguyên đán cho thấy, lượng tiêu thụ mặt hàng đường, thực phẩm chế biến luôn tăng cao, nên các DN đã chủ động dự trữ một lượng lớn đối với 2 nhóm mặt hàng này. Ngoài ra, bằng nguồn vốn tự có, các DN đã chủ động dự trữ lượng hàng gấp đôi số lượng được giao, đáp ứng 30% nhu cầu của 7 nhóm hàng thiết yếu.

Thời tiết trong thời gian gần đây không thuận lợi nên nguồn cung một số mặt hàng thực phẩm, rau xanh bị hạn chế. Để đảm bảo lượng lương thực, thực phẩm trong dịp Tết Nguyên đán, nhiều DN đã chủ động khai thác nguồn hàng từ các tỉnh khác. Trong đó, mặt hàng thịt lợn, thịt gà, trứng gia cầm được khai thác thêm tại các tỉnh Ninh Bình, Nghệ An, Bắc Ninh, Bắc Giang, Thái Nguyên. Hàng rau, củ, quả được khai thác từ các tỉnh Vĩnh Phúc, Đà Lạt, Hải Dương, Mộc Châu…
 
Nhằm đưa lượng hàng bình ổn giá hàng phục vụ Tết đến với người tiêu dùng các DN tham gia chương trình đã tổ chức 617 điểm, liên kết với các DN khác triển khai thêm 1.646 điểm bán hàng, tổ chức 80 chuyến bán hàng lưu động, 4 phiên chợ Tết tại các huyện Sóc Sơn, Thạch Thất, Thường Tín, Từ Liêm.

Vẫn còn những khó khăn

Mặc dù UBND thành phố Hà Nội đã có cơ chế hỗ trợ DN tham gia chương trình bình ổn giá, tuy nhiên, trong quá trình triển khai hoạt động này vẫn còn những khó khăn, ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu qủa của công tác này.

Nhằm tạo thuận lợi cho DN vận chuyển hàng hóa vào nội thành, phục vụ kịp thời nhu cầu mua sắm của người dân trong dịp Tết, UBND thành phố đã chấp thuận cho 110 xe tải (khoảng 2,5 - 3 tấn) được hoạt động 24/24 giờ trong khu vực nội thành. Tuy nhiên, nhiều DN phản ánh, cơ quan chức năng chỉ cấp phép lưu thông cho lượng xe này hoạt động trong một số tuyến đường cố định. Trong khi đó, một số tuyến đường DN đặt tổng kho dự trữ hàng hóa lại không được cấp phép, gây khó khăn không nhỏ cho việc vận chuyển hàng hóa.

Ông Nguyễn Hữu Thắng - Chủ tịch HĐQT Tổng Công ty Thương mại Hà Nội (Hapro) cho biết: Từ năm 2009, Hapro và các DN tham gia chương trình đã tổ chức các chuyến bán hàng lưu động về vùng nông thôn, khu công nghiệp… nhưng chính quyền một số địa phương chưa tạo điều kiện cho DN tổ chức điểm bán hàng.

Bên cạnh đó, kinh phí tổ chức bán hàng lưu động khá cao, nhưng lợi nhuận thu về lại thấp, không đủ bù đắp chi phí. Từ thực tế các chuyến đưa hàng bình ổn giá về vùng nông thôn cho thấy, tập quán tiêu dùng của người dân khu vực này chủ yếu mua sắm tại các chợ cóc nên luôn có sự so sánh giá cả đối với hàng bình ổn giá, dẫn đến việc tiêu thụ các mặt hàng bình ổn giá còn hạn chế.

Bà Đào Thu Vịnh - Phó Giám đốc Sở Công Thương Hà Nội khẳng định: Để hỗ trợ DN trong việc triển khai chương trình bình ổn giá, đặc biệt là việc tạo nguồn cung ứng hàng hóa, thời gian tới, Sở Công Thương Hà Nội sẽ đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại, liên kết với các tỉnh, tăng cường phát triển mạng lưới hạ tầng thương mại khu vực nông thôn, qua đó tạo điều kiện cho DN mở thêm điểm bán hàng.

Tuy nhiên, bên cạnh sự hỗ trợ của UBND thành phố, chính bản thân các DN cần chủ động hơn trong việc mở thêm điểm bán hàng bình ổn, đẩy mạnh tiêu thụ hàng bình ổn thông qua bếp ăn tập thể. Ngoài ra, liên kết giữa các DN, qua đó thu mua hàng hóa số lượng lớn để hưởng giá ưu đãi từ nhà sản xuất cũng như mở rộng điểm bán hàng cũng là phương án mà các DN cần tính đến.
 
Ngày 16/1, Sở Công Thương Hà Nội đã tổ chức Hội nghị tổng kết công tác năm 2013 và định hướng nhiệm vụ năm 2014.

Năm 2014, ngành công thương Hà Nội đặt mục tiêu đưa kim ngạch xuất khẩu tăng từ 6 - 7%, chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp tăng 5 -5,5%, giá trị tăng thêm của toàn ngành từ 8,1 - 8,9% so với năm 2013. 100% cụm công nghiệp mới xây dựng có trạm xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn quốc gia...

Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Phó Chủ tịch UBND thành phốHà Nội Nguyễn Văn Sửu yêu cầu Sở Công Thương Hà Nội trong năm 2014 cần nâng cao hơn nữa sức cạnh tranh cho ngành công nghiệp, đẩy mạnh sản xuất hàng hóa có chất lượng cao; Tích cực ngầm hóa hệ thống lưới điện; Chú trọng mở rộng hệ thống phân phối cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, trước mắt đảm bảo lượng hàng hóa cung ứng cho thị trường trong dịp Tết Nguyên đán sắp tới... Theo ktdt.com.vn

Từ khóa: doanh nghiệp , bình ổn giá , Tết Nguyên đán 2014 , lượng hàng hóa tiêu dùng , Sở Công Thương Hà Nội , lượng tiêu thụ , mặt hàng thực phẩm Các tin đã đưa Điều chỉnh tăng giá cước thư thường từ tháng 2/2014 Cận Tết: Sức mua "lạnh", giá cả lại tăng "nóng" Chủ động tăng nguồn hàng phục vụ Tết Những xu hướng social media 2014 Thị trường bán lẻ Việt Nam: Nhà đầu tư nước ngoài chiếm ưu thế Quyết liệt giảm giá than Thời khó khăn, siêu thị giành khách của chợ Tạo mọi điều kiện thuận lợi cho người dân Diễn biến giá cả thị trường năm 2013, dự báo và đề xuất giải pháp quản lý, điều hành giá năm 2014 (*) Diễn biến chỉ số giá tiêu dùng năm 2013 và dự báo năm 2014 (*) Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN: NHÌN LẠI NĂM 2013 VÀ TRIỂN VỌNG NĂM 2014 2013 tiếp tục là một năm có nhiều khó khăn đối với thị trường bất động sản Việt Nam ở phần lớn các phân khúc, dẫu cuối năm đã có những điểm sáng. Tuy nhiên, những tồn đọng, điểm nghẽn đã bước đầu được xử lý, đang tạo nền tảng để có những chuyển biến lớn trong năm 2014.

Đọc nhiều nhất Một số thắc mắc liên quan những quy định mới về thuế giá trị gia tăng Những điểm nổi bật của thị trường bất động sản năm 2013 và dự báo năm 2014 Học Thạc sỹ tại Việt Nam cấp bằng chuẩn Vương quốc Anh Ngân hàng Nhà nước chỉ thị về thực hiện chính sách tiền tệ năm 2014 Không thực hiện đúng quy định của pháp luật về nộp thuế sẽ bị cưỡng chế thuế Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

Thứ Tư, 26 tháng 2, 2014

Thực trạng đầu tư từ nguồn vốn nhà nước ở Việt Nam

Thực trạng đầu tư từ nguồn vốn nhà nước ở Việt Nam

Thứ hai 13/01/2014 14:57

TS. TRỊNH MAI VÂN, NGUYỄN VĂN ĐẠI - Đại học Kinh tế Quốc dân

(Tài chính) Trong thời gian qua, hoạt động đầu tư phát triển (ĐTPT) của khu vực kinh tế nhà nước (KTNN) đã góp phần quan trọng trong thúc đẩy và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Tuy nhiên, thực tế nguồn vốn này vẫn chưa phát huy hiệu quả cao. Cơ chế phân bổ và thực hiện vốn vẫn tập trung quá nhiều vào lĩnh vực hạ tầng cơ sở, chưa đầu tư thoả đáng cho các dự án có khả năng thu hồi vốn, trực tiếp tạo ra sản phẩm hàng hoá làm tăng GDP. Bài viết phân tích, thực trạng hoạt động đầu tư từ nguồn vốn nhà nước ở Việt Nam thời gian qua.

Quy mô, cơ cấu vốn đầu tư

Quy mô vốn đầu tư

Trong thời gian từ 2005 đến 2012, tỷ trọng vốn ĐTPT toàn xã hội luôn chiếm rất cao trong GDP (cao nhất là năm 2007 với 46,52%). Tuy nhiên, tỷ trọng này đang có xu hướng giảm mạnh, đến năm 2012 chỉ còn 33,5% trong GDP.

Trong thời gian từ 2009-2012, tỷ trọng vốn đầu tư trong GDP theo 3 khu vực sở hữu đều giảm (KTNN - 11%; khu vực kinh tế ngoài nhà nước -3,96% và khu vực kinh tế có vốn FDI -18,54%). Sự sụt giảm tỷ trọng vốn đầu tư/GDP của khu vực KTNN là do chủ trương cắt giảm đầu tư công trong thời gian qua.

Số liệu tại bảng 1 cho thấy, tổng vốn ĐTPT toàn xã hội đã liên tục tăng từ 343.135 tỷ đồng năm 2005 lên 989.300 tỷ đồng năm 2012 (tăng lên 2,88 lần). Trong đó, khu vực vốn FDI tăng nhanh nhất (4,5 lần); tiếp đến là khu vực kinh tế ngoài nhà nước (2,95 lần) và cuối cùng là khu vực KTNN 2,32 lần. Nhìn chung, quy mô vốn cho ĐTPT đều tăng trong thời gian từ 2005 - 2012, tuy nhiên có xu hướng chững lại trong tất cả các khu vực (năm 2012 chỉ cao hơn so với năm 2011 là 64.805 tỷ đồng), đặc biệt là trong 2 năm gần đây, tổng vốn đầu tư nhà nước đã không còn chiếm ưu thế mà đứng sau khu vực kinh tế ngoài nhà nước.

Điều này một phần là do trong năm 2011, Chính phủ thực hiện rà soát, cắt giảm, điều chuyển vốn đầu tư nhằm sử dụng hiệu quả, chống thất thoát, lãng phí theo tinh thần Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/2/2011 và năm 2012 triển khai thực hiện Chỉ thị số 1792/CT-TTg ngày 15/10/2011 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý đầu tư từ vốn ngân sách nhà nước (NSNN) và vốn trái phiếu chính phủ.

Cơ cấu vốn đầu tư

Vốn ĐTPT từ khu vực KTNN có xu hướng giảm dần tỷ trọng trong toàn bộ giai đoạn 2005-2012 từ 47% xuống còn khoảng 37%. Vốn ĐTPT từ khu vực ngoài nhà nước giữ nguyên tỷ trọng trong giai đoạn này. Khu vực FDI có sự gia tăng đóng góp cho vốn ĐTPT được coi là một tín hiệu đáng mừng. Tỷ trọng đóng góp vốn ĐTPT của khu vực này tăng từ 14,89% năm 2005 lên 23,2% năm 2012.

Trong tổng vốn, giá trị vốn đầu tư nhà nước từ 2005 - 2012, vốn đầu tư từ NSNN luôn tăng và đứng đầu qua các năm. Điều này phản ánh thực tế gia tăng chi tiêu công của Nhà nước cho phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian qua.

Trong thời gian 2005 - 2012, tỷ lệ giữa vốn đầu tư từ NSNN/tổng vốn đầu tư của Nhà nước luôn chiếm tỷ trọng cao nhất tuy tăng giảm không đều (năm 2005 - 2010 chiếm bình quân tới 55,6%, thậm chí năm 2008, 2009 là trên 60%, năm 2010 là 44,8%, năm 2011 là 52,1 và năm 2012 là 54,8%) (Hình 1).

Hiệu quả vốn đầu tư

Hiệu quả kinh tế

Quy mô đầu tư sử dụng nguồn vốn nhà nước trong thời gian qua duy trì tăng trưởng ở mức 2 con số và có sự chậm lại trong những năm gần đây (mức tăng trung bình giai đoạn 2001 – 2005 đạt 12,68%/ năm, giai đoạn 2006 – 2010 là 11,54%/năm và xuống khoảng 6% trong năm 2011 - 2012).

Qua các số liệu ở trên có thể thấy, trong tổng vốn đầu tư của khu vực nhà nước từ năm 2005 - 2012, vốn đầu tư từ NSNN luôn chiếm tỷ khối lượng lớn nhất so với các nguồn vốn khác. Điều này phản ánh thực tế gia tăng chi tiêu công của Nhà nước cho phát triển kinh tế - xã hội. Tuy vậy, nếu so sánh với những nỗ lực cắt giảm chi tiêu công qua NSNN thì mục tiêu này chưa đạt được hiệu quả khi năm 2012, tỷ trọng vốn đầu tư từ NSNN vẫn lên tới 54,8%.

Mô hình tăng trưởng của Việt Nam dựa quá nhiều vào vốn ĐTPT và phát triển theo chiều rộng. Các nhân tố phát triển theo chiều sâu ngày càng bị lấn át. Trong toàn bộ giai đoạn 2001-2010, sự đóng góp của vốn vào tăng trưởng chiếm tỷ trọng trung bình tới 55,65%, tỷ trọng đóng góp cao nhất vào năm 2009 với 72,37%.

Trong khi đó, sự đóng góp của yếu tố lao động vào tăng trưởng chiếm trung bình 25,21% trong giai đoạn 2001-2010, cao nhất vào năm 2009 với 34,02%. Mức độ đóng góp của yếu tố năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng chiếm tỷ trọng nhỏ nhất với 19,15%. Đóng góp của yếu tố TFP này không ổn định, biểu hiện qua sự “biến động” của nền kinh tế thế giới trong năm 2008 - 2009 với mức độ đóng góp tương ứng là 7,29% và -6,39%.

Trong giai đoạn 2000-2006, TFP đóng góp vào tăng trưởng kinh tế 11,6%, trong đó khu vực KTNN đóng góp 4,5%; kinh tế ngoài Nhà nước: 5,4% và kinh tế có vốn FDI chỉ đạt 1,7%.

Đến giai đoạn 2007-2012, yếu tố TFP chỉ đóng góp vào tăng trưởng 6,4%. Trong đó, khu vực KTNN đóng góp 2,2%, ngoài Nhà nước: 3,0% và kinh tế có vốn FDI: 1,2%. Như vậy, sự đóng góp của TFP vào nền kinh tế theo các phân tích này đều nhỏ, trong đó có khu vực KTNN, chứng tỏ tính hiệu quả chưa cao của khu vực này.

Bức tranh tổng thể về ĐTPT trong những năm vừa qua ở nước ta có biểu hiện chưa tích cực, trong đó ĐTPT của khu vực KTNN có một vị trí, vai trò rất quan trọng. Nguồn vốn này góp phần thu hút được nhiều nguồn lực trong nước và ngoài nước cho ĐTPT, góp phần tạo nên những thành tựu phát triển kinh tế quan trọng. Bên cạnh những thành tích đã đạt được, hiệu quả đầu tư sử dụng nguồn vốn nhà nước trong thời gian qua chưa cao.

Chỉ số ICOR của kinh tế Việt Nam từ mức 3,3 giai đoạn 1991 - 1995 đã tăng lên đến mức 7,04 giai đoạn 2001 - 2005 và mức 6,18 giai đoạn 2006 - 2010. Nhờ vào những biện pháp tái cơ cấu, tập trung vào nâng cao hiệu quả đầu tư, hệ số ICOR trong hai năm 2011 - 2012 đã giảm đáng kể, đạt mức khoảng 4,6. Xét về từng dự án, còn không ít dự án đầu tư có hiệu quả thấp, không đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế và xã hội, cá biệt có những dự án, nội dung đầu tư trùng lắp, chồng chéo, hoặc gây cản trở, làm mất hiệu quả của các dự án đã được đầu tư trước đó.

Qua các số liệu tính toán trên, ta thấy hiệu quả đầu tư từ khu vực Nhà nước có thể được chia thành hai thời kỳ:

Từ 2005-2009, hệ số ICOR tăng dần. Mặc dù tỷ lệ đầu tư từ khu vực Nhà nước so với GDP khu vực Nhà nước không tăng mà còn giảm đi trong giai đoạn này nhưng việc tạo ra giá trị gia tăng đã giảm sút, dẫn tới giá trị hệ số ICOR khu vực này tăng lên nhanh chóng, bất chấp nỗ lực cắt giảm, hạn chế đầu tư công của khu vực Nhà nước. Trong đó, vốn đầu tư từ NSNN có tỷ trọng lớn nhất cũng chính là một trong những nguyên nhân dẫn tới sự kém hiệu quả của đầu tư khu vực nhà nước nói chung.

Từ 2010-2012, ICOR có xu hướng giảm dần, chứng tỏ được hiệu quả đầu tư của khu vực KTNN đã dần được cải thiện theo hướng tích cực. Tuy nhiên, tính chung cho giai đoạn 2005-2012, hiệu quả đầu tư của khu vực KTNN vẫn rất thấp khi giá trị hệ số ICOR là 8,58.

Nhìn chung trong cả giai đoạn 2000-2012, ĐTPT từ nguồn vốn NSNN không hiệu quả nếu xét theo khía cạnh tạo việc làm cho lao động. Tuy nhiên, điều này có thể được giải thích như sau: theo xu hướng thì khu vực Nhà nước cần giảm dần về tỷ trọng trong GDP, vốn và lao động do tính mở của cơ chế thị trường và các quy tắc ràng buộc khi gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Khu vực Nhà nước vốn mang đặc trưng kém hiệu quả, linh hoạt. Vì vậy, lao động được rút ra khỏi khu vực này chưa hẳn là một dấu hiệu tiêu cực.

Hiệu quả xã hội

Giảm nghèo là một trong những mục tiêu ưu tiên ở nước ta. ĐTPT có hiệu quả thể hiện ở việc giảm tỷ lệ hộ nghèo qua các năm được xem xét qua hệ số co giãn (HSCG)

Để đo lường sự tác động của ĐTPT vào giảm đói nghèo có thể xem xét mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng vốn đầu tư của khu vực KTNN và tốc độ giảm tỷ lệ hộ nghèo. Qua số liệu trên, HSCG giữa đầu tư của khu vực KTNN và giảm nghèo mang giá trị âm, điều này chứng tỏ đầu tư của khu vực này có tác động tích cực tới giảm nghèo. Giá trị tuyết đối của hệ số này đã tăng lên từ 1,19 tới 1,67 chứng tỏ tác động tích cực của vốn ĐTPT tới giảm nghèo của giai đoạn sau so với giai đoạn trước.

Một số đề xuất trong giai đoạn tới

Bên cạnh những kết quả tích cực mang lại, thực tế đầu tư từ nguồn vốn Nhà nước vẫn mang tính kém hiệu quả, dàn trải, chưa đồng đều, do đó kết quả mang lại chưa như mong đợi… Để có thể khắc phục được hạn chế này, tác giả đề xuất một số vấn đề sau:

Thứ nhất, khắc phục tình trạng đầu tư phân tán, dàn trải và chậm tiến độ trong đầu tư xây dựng: Nâng cao trách nhiệm của các cơ quan đã được phân cấp trong quản lý, phân bổ vốn đầu tư. Ban hành các quy định cụ thể, có chế tài ràng buộc trách nhiệm bảo đảm vốn và phê duyệt dự án đầu tư. Nâng cao trình độ xây dựng, phân tích, thẩm định và quản lý dự án của cán bộ các cấp. Xây dựng các tiêu chí lựa chọn dự án đầu tư để hạn chế việc can thiệp, chi phối, đưa ra quá nhiều dự án, không phù hợp với khả năng nguồn vốn. Tổ chức tốt công tác giải phóng mặt bằng để đảm bảo tiến độ xây dựng. Đơn giản hoá thủ tục đầu tư và đấu thầu.

Thứ hai, nâng cao hiệu suất, hiệu quả của công trình, dự án: Nâng cao chất lượng của báo cáo nghiên cứu khả thi của các dự án đầu tư; thuê các tư vấn giỏi để hỗ trợ trong các khâu tư vấn dự án, tư vấn thiết kế, lập tổng dự toán. Nghiên cứu, khảo sát kỹ trước khi quyết định đầu tư. Quy định rõ trách nhiệm của người quyết định đầu tư đối với kết quả thực hiện dự án; Thực hiện tốt công tác chuẩn bị thực hiện dự án; tính toán đầy đủ các yếu tố và điều kiện khai thác, sử dụng để có thể vận hành, đưa công trình vào sử dụng ngay sau khi hoàn thành.

Thứ ba, tăng cường công tác theo dõi, đánh giá và kiểm tra, thanh tra đầu tư từ NSNN: Thực hiện theo dõi, đánh giá dựa trên kết quả đối với các dự án đầu tư. Các bộ, ngành, địa phương thực hiện giám sát ngay từ khâu lập dự án, thẩm định, bố trí vốn đầu tư, đảm bảo tuân thủ theo quy hoạch, kế hoạch được duyệt.

Khẩn trương triển khai công tác giám sát cộng đồng đối với đầu tư bằng nguồn vốn nhà nước để góp phần làm nguồn vốn này được quản lý và sử dụng một cách công khai, minh bạch, chống được thất thoát, lãng phí và tham nhũng; Thực hiện có hiệu quả công tác giám sát, phối hợp sự tham gia của các bên hữu quan đối với các dự án đầu tư công, đầu tư có nguồn từ NSNN đảm bảo công khai, minh bạch cao. Điều này sẽ có tác động tích cực tới không chỉ đầu tư của khu vực công, NSNN mà còn có tác động tới hiệu quả của đầu tư tư nhân; Có cơ chế phối hợp giữa các cơ quan có liên quan trong thực thi chính sách kinh tế vĩ mô, trong giám sát và kiểm soát các dòng lưu chuyển vốn.

Tài liệu tham khảo:

1. Chính phủ (2012), Báo cáo tình hình đầu tư phát triển năm 2012 và dự kiến phương án phân bổ kế hoạch đầu tư phát triển nguồn NSNN năm 2013 và giai đoạn 2013-2015;

2. Bùi Mạnh Cường (2012), “Nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển từ nguồn vốn NSNN ở Việt Nam”, Luận án tiến sĩ kinh tế;

3. Tổng cục thống kê, Niên giám thống kê 2011&2012;

4. Trần Thọ Đạt (2008), Sách chuyên khảo các mô hình tăng trưởng kinh tế, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân.

Bài đăng trên Tạp chí Tài chính số 12 - 2013

Từ khóa: hoạt động đầu tư phát triển , khu vực kinh tế nhà nước , nguồn vốn , hạ tầng cơ sở , khả năng thu hồi vốn , nguồn vốn nhà nước Các tin đã đưa Thực trạng đầu tư từ nguồn vốn nhà nước ở Việt Nam Nâng cao hiệu quả thu hút và sử dụng vốn FDI Tồn kho giảm, kinh tế phục hồi Ban Kinh tế Trung ương có nhiều đề xuất rất thiết thực và sáng tạo Lạc quan về tăng trưởng xuất khẩu và yếu tố năng suất lao động tổng hợp VNSTEEL nộp ngân sách nhà nước 2.445 tỷ đồng Ba ấn tượng về kinh tế TP. Hồ Chí Minh WB khuyến nghị về động lực tăng trưởng mới cho Việt Nam Cần cơ chế riêng cho các thương vụ Đòn bẩy từ chính sách, nỗ lực từ doanh nghiệp Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG GIÁ CẢ NĂM 2013 VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐIỀU HÀNH NĂM 2014 Chỉ số CPI bình quân năm 2013 tăng 6,60% so với năm 2012 - mức tăng thấp nhất trong 10 năm qua là một trong những thành tích nổi bật trong công tác điều hành của Chính phủ, phản ánh thành công của việc bình ổn thị trường, kiềm chế lạm phát. Tuy nhiên, việc quản lý, điều hành giá cả trong năm 2014 được dự báo vẫn không ít thách thức.

Đọc nhiều nhất Giới đầu tư thế giới đổ về châu Á tìm cơ hội đầu tư Công bố tổ chức tư vấn định giá được phép cung cấp dịch vụ xác định giá trị doanh nghiệp Thưởng Tết 2014 của khối ngân hàng: Không còn "khủng" Không có chuyện “làm xiếc” hay “xào xáo” số liệu! Bộ Tài chính gặp mặt các cơ quan thông tấn báo chí Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article