What they says

Được tạo bởi Blogger.

Thứ Sáu, 23 tháng 5, 2014

Tín hiệu tích cực từ chương trình bình ổn giá

Tín hiệu tích cực từ chương trình bình ổn giá

Thứ sáu 07/02/2014 16:43

(Tài chính) Việc các địa phương trên cả nước, đặc biệt là Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh đẩy mạnh triển khai chương trình bình ổn giá đã giúp hàng hóa trong và sau Tết Nguyên đán không có sự tăng giá đột biến.

Hàng hóa trong và sau Tết Nguyên đán không có sự tăng giá đột biến. Nguồn: internet

Điều đó cho thấy, chương trình này đã phát huy được tác dụng khi giá cả thị trường có những biến động bất thường.

Giúp hàng Việt chiếm lĩnh thị trường

Báo cáo của Bộ Công Thương cho thấy đã có 33 địa phương thực hiện chương trình bình ổn giá trong dịp Tết Nguyên đán với số tiền 1.500 tỷ đồng. Trong đó, riêng các doanh nghiệp Hà Nội đã dự trữ lượng hàng hóa đủ đáp ứng 30% nhu cầu tiêu dùng của người dân trong dịp Tết. Việc chuẩn bị đủ lượng hàng hóa phục vụ nhu cầu tiêu dùng cũng tác động không nhỏ đến chỉ số giá tiêu dùng (CPI). Người dân sau khi tiếp cận chương trình thông qua các gian hàng bình ổn giá lưu động do các doanh nghiệp tổ chức đã có nhiều ý kiến phản hồi tích cực.
 Chị Đặng Thị Nguyên ở thị trấn Sóc Sơn, huyện Sóc Sơn cho biết: Các điểm bán hàng bình ổn giá tổ chức tại ngoại thành đã giúp nông dân mua được các mặt hàng thiết yếu với giá rẻ hơn thị trường từ 10 - 15%. Hơn nữa, những mặt hàng này đều do doanh nghiệp trong nước sản xuất, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng nên tránh mua phải hàng giả, hàng kém chất lượng. Lượng hàng hóa được người tiêu dùng tiêu thụ mạnh thông qua chương trình là yếu tố thu hút doanh nghiệp tham gia. Thậm chí một số doanh nghiệp còn sử dụng vốn riêng của mình tham gia chương trình bình ổn giá mà không nhận tiền hỗ trợ của Nhà nước.

Hầu hết các doanh nghiệp tham gia đều cho rằng: Chương trình bình ổn giá đã giúp doanh nghiệp quảng bá sản phẩm, tạo cơ hội tiếp cận nguồn vốn ưu đãi để phát triển sản xuất, kinh doanh. Đồng thời, hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng các mô hình liên kết giữa nhà sản xuất và nhà phân phối. Điều quan trọng hơn cả là hàng Việt chất lượng cao được đưa đến tận tay người tiêu dùng, từ đó chiếm lĩnh thị trường, dần hạn chế hàng ngoại nhập.

Thực tế hoạt động triển khai chương trình cho thấy hàng nội đã dần chiếm lĩnh được lòng tin của người tiêu dùng. Điều này đã góp phần hỗ trợ các doanh nghiệp nâng dần tỷ trọng hàng nội trong cơ cấu hàng hóa bày bán tại các siêu thị.

Vẫn còn những khó khăn

Mặc dù đã đạt được những thành công nhất định nhưng trong quá trình triển khai, chương trình bình ổn giá cũng đã bộc lộ những hạn chế như: Giá một số mặt hàng tham gia bình ổn giá còn cao hơn cả giá thị trường. Nguyên nhân được một số doanh nghiệp phân phối lý giải là do chi phí kinh doanh của siêu thị cao, hàng hóa nông sản lại chậm luân chuyển nên không theo kịp diễn biến thị trường. Tuy nhiên, nguyên nhân sâu xa là vốn dành cho chương trình bình ổn giá đã được triển khai một cách dàn trải nên tác dụng chi phối thị trường không cao.

Ông Nguyễn Hữu Thắng - Chủ tịch Hội đổng quản trị Tổng Công ty Thương mại Hà Nội (Hapro) than phiền: Từ năm 2009, Hapro và các doanh nghiệp tham gia chương trình bình ổn giá đã tổ chức các chuyến bán hàng lưu động về nông thôn, khu công nghiệp, nhưng kinh phí tổ chức bán hàng lưu động khá cao, lợi nhuận thu về thấp, không đủ bù đắp chi phí. Bên cạnh đó, người dân chủ yếu mua sắm tại các chợ "cóc" nên luôn có sự so sánh giá cả đối với hàng bình ổn giá. Điều đó dẫn đến việc tiêu thụ các mặt hàng bình ổn giá còn hạn chế.

Để có thể mở rộng chương trình, các doanh nghiệp và cơ quan quản lý cần có cách làm mới theo hướng chuyên đề, hạn chế tối đa tình trạng bình ổn giá dàn trải. Vừa qua, căn cứ vào tình hình cung cầu trên thị trường, ngành công thương Hà Nội đã bỏ mặt hàng giấy vở, đường ăn, thực phẩm đã qua chế biến ra khỏi chương trình bình ổn giá là minh chứng cho việc dành vốn tập trung bình ổn những mặt hàng thiết yếu.

Tuy nhiên, bên cạnh sự hỗ trợ của Nhà nước, các doanh nghiệp cần chủ động hơn trong việc mở thêm điểm bán hàng bình ổn. Đồng thời tăng cường liên kết giữa các doanh nghiệp, qua đó thu mua hàng hóa số lượng lớn để hưởng giá ưu đãi từ nhà sản xuất cũng như mở rộng điểm bán hàng. Theo ktdt.com.vn

Từ khóa: bình ổn , bán hàng , hàng hóa , Sóc Sơn , Hapro , mặt hàng , Tết Nguyên Đán , chỉ số giá tiêu dùng , thị trường , giá cả thị trường , nhu cầu tiêu dùng Các tin đã đưa Các biện pháp bình ổn giá Tết Nguyên đán Giáp Ngọ 2014 Thị trường bán lẻ 2014: Cuộc chơi hấp dẫn Tín hiệu tích cực từ chương trình bình ổn giá Chủ động vào cuộc để bình ổn giá Giá cả “dễ chịu” bất ngờ sau Tết Thị trường khởi sắc ở tuần cuối năm? Sức mua hàng tết bắt đầu tăng CPI tháng 1 của cả nước chỉ tăng 0,6-0,7% Bảo đảm lợi ích quốc gia trong thanh toán quốc tế Thị trường Tết: Sức mua "rùa bò", giá vẫn tăng "phi mã" Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính KINH TẾ - TÀI CHÍNH VIỆT NAM: THÀNH TỰU NĂM 2013 - TRIỂN VỌNG NĂM 2014 Năm 2013 đi qua, để lại nhiều dấu ấn trong công tác điều hành của Chính phủ nói chung và Bộ Tài chính nói riêng, qua đó góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ thu ngân sách, ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển. Thời gian tới, dự báo tình hình kinh tế - tài chính vẫn còn gặp nhiều khó khăn, song vẫn không ít động lực và niềm tin để tin rằng sẽ “Mã đáo thành công” trong năm Giáp Ngọ 2014.

Đọc nhiều nhất Lưu ý một số điểm mới tại Thông tư số 111/2013/TT-BTC về thuế Thu nhập cá nhân Hướng dẫn quyết toán thuế thu nhập cá nhân năm 2013 Hướng dẫn cách tính thuế Thu nhập cá nhân mới nhất năm 2014 Những lĩnh vực đầu tư dễ sinh lời trong năm 2014 ? Không vội vã Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

Thứ Bảy, 5 tháng 4, 2014

Chuẩn bị cho quá trình phục hồi

Kinh tế Việt Nam năm 2013:

Chuẩn bị cho quá trình phục hồi

Thứ ba 28/01/2014 07:00

TS. NGUYỄN ĐỨC THÀNH, NGÔ QUỐC THÁI - Đại học Quốc gia Hà Nội

(Tài chính) Trong năm 2013, nền kinh tế Việt Nam đã gắng gượng vượt qua các thách thức và khó khăn từ các năm trước để lại. Năm 2014, dự báo sẽ là một năm thuận lợi hơn cho nền kinh tế nước nhà khi nhu cầu từ bên ngoài đang có nhiều chuyển biến tích cực và ở trong nước, các điều kiện vĩ mô dần ổn định, kỳ vọng sẽ là bệ đỡ cho sản xuất phục hồi.

Tổng quan kinh tế vĩ mô năm 2013

Trong năm 2013, năng suất suy giảm và chi phí gia tăng tiếp tục đeo bám doanh nghiệp (DN) cùng với đó là sức ép cạnh tranh cao và môi trường kinh doanh không nhiều cải thiện. Bên cạnh đó, tiêu dùng và đầu tư tư nhân không chỉ bị kìm hãm bởi sức mua yếu và tâm lý thận trọng mà còn có dấu hiệu bị lấn át bởi khu vực công.

Tuy nhiên nền kinh tế Việt Nam có mức tăng trưởng đạt 5,42% trong năm 2013 là cột mốc chấm dứt giai đoạn suy giảm kinh tế trong 3 năm trở lại đây. Hầu hết các nhóm ngành ghi nhận mức tăng trưởng từ5-9%, ngoại trừ nông nghiệp (2,21%) và khai khoáng (-0,2%). Các nhóm ngành cấp 1 đều ghi nhận tăng trưởng dương nhưng chỉ cao hơn mức thấp nhất trong giai đoạn 2005-2013.

Nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,67% (chỉ hơn mức 1,91% năm 2009); Công nghiệp - xây dựng tăng 5,43% (chỉ hơn mức 4,13% của năm 2008); Dịch vụ tăng 6,56% (cao hơn mức 5,9% của năm ngoái và 6,55% vào năm 2009). Điều này cho thấy sự phục hồi chỉ manh nha và chưa thực sự thuyết phục.

Mức đóng góp vào tăng trưởng nhiều nhất là dịch vụ với 2,85 điểm, công nghiệp - xây dựng với 2,09 điểm, nông, lâm nghiệp, thủy sản với 0,48 điểm %. Tỷ lệ đóng góp vào tốc độ tăng trưởng lần lượt là 50%, 40% và 10% đã duy trì tương đối ổn định từ 2005 đến nay.

Nền kinh tế hồi phục nhẹ trong năm 2013 sau khi lạm phát chạm đỉnh (năm 2011 với 18,58%) và tăng trưởng chạm đáy (năm 2012 với 5,03%). Tỷ lệ lạm phát tính theo chỉ số giá tiêu dùng (CPI) đạt mức bình quân 6,04% tính theo năm, mức thấp nhất trong 4 năm gần đây và chỉ cao hơn năm 2009 (5,9%) trong 8 năm gần nhất. Tỷ lệ lạm phát theo tháng thậm chí giảm về âm trong tháng 3/2013 (-0,19%) và tháng 5/2013 (-0,06%) và nhờ viện phí điều chỉnh trong tháng 4/2013 (3,62%) mà lạm phát tháng 4 không âm (0,02%).

Mức tăng giá các dịch vụ công gồm thuốc, dịch vụ y tế (45,63%) và giáo dục (14,17%) đã đóng góp một nửa mức lạm phát cả năm. Ngoài ra, mức tăng giá hàng hóa cơ bản như điện, xăng dầu, gas cũng góp khoảng 1 điểm %, bên cạnh nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống (tăng 2,68%, đóng góp 1,07 điểm %). Ảnh hưởng tăng giá của các nhóm khác không lớn. Ngoài các nhóm tăng vừa phải, bưu chính viễn thông có mức giảm 0,48%.

Tỷ lệ lạm phát tính theo chỉ số điều chỉnh GDP ở mức 4,76%, thấp hơn mức tăng theo CPI. Do CPI không nắm bắt toàn bộ biến động giá cả trong nền kinh tế cho nên có xu hướng đánh giá thấp khi lạm phát cao và đánh giá cao khi có lạm phát thấp.

Như vậy, nền kinh tế đang có lạm phát thấp và người tiêu dùng có thể đang chịu gánh nặng chi phí cao hơn bình diện chung. Chỉ số giá bán sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản tăng nhẹ 0,57%, chủ yếu do mức giảm của sản phẩm ngành chăn nuôi (2,38%); chỉ số giá bán sản phẩm công nghiệp tăng 5,25%, do mức tăng tương đối thấp của ngành chế biến chế tạo (3,4%).

Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng lần lượt 2,47%, 6,04% và 4,22% so với năm 2012. Nếu thước đo này có tương quan nhất định với GDP thì nhóm ngành này đang trì trệ so với các năm trước. Nguyên nhân được xác định là điều kiện thời tiết bất lợi, tình trạng ngập mặn ở phía Nam và chất lượng giống không cao. Quy mô ngành chăn nuôi cải thiện không nhiều, đàn bò sữa tăng mạnh (11,6%) trong khi gia súc lấy thịt giảm cả số lượng đàn và sản lượng (1-2%).

Ngành thủy sản cũng chứng kiến hiện tượng tương tự với cá tra: giảm nuôi thả khu vực hộ gia đình, tăng nuôi ở khu vực DN. Nhu cầu cao với sản phẩm gỗ trong năm đã thúc đẩy sản lượng khai thác (tăng 6,8%) và hoạt động trồng rừng, chủ yếu ở các tỉnh miền Trung.

Ngành công nghiệp năm 2013 tăng khá nhờ sức bật của ngành chế biến, chế tạo, đặc biệt trong nửa cuối năm. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IPI) toàn ngành tăng 5,9% theo năm, trong đó ngành chế biến chế tạo tăng 7,4%, đóng góp 90% mức tăng IPI toàn ngành. IPI tăng nhanh dần sau mỗi quý, từ 5,3% trong quý I/2013 lên 10,1% trong quý IV/2013. Sản xuất - phân phối điện tăng 8,5%, đóng góp 0,6 điểm %. Cung cấp nước, xử lý nước thải, rác thải tăng 9,1%, đóng góp 0,1 điểm %; trong khi mức giảm 0,2% của ngành khai khoáng làm giảm 0,1 điểm %.

Chỉ số Nhà quản trị mua hàng (PMI) của HSBC cho thấy điều kiện sản xuất năm 2013 tiếp tục suy yếu so với năm 2012 đối với các DN được khảo sát. Những tháng suy giảm có mức độ lớn hơn những tháng có cải thiện nhưng điểm tích cực là thời gian suy giảm không kéo dài (chỉ tối đa 3 tháng) như năm 2012 (7 tháng). Chỉ số đơn hàng, sản lượng đơn hàng mới (kể cả xuất khẩu) đều tăng khiêm tốn và kém bền bỉ, trong khi việc làm tăng lên và mạnh hơn làm giảm công việc tồn đọng.

Biên lợi nhuận giảm dần khi giá cả đầu vào tăng liên tục với biên độ lớn từ đầu năm, trong khi giá đầu ra còn giảm liên tục và đáng kể vào 2 quý giữa năm (đúng giai đoạn PMI xuống đáy). Chỉ số giá nguyên liệu đầu vào cho sản xuất theo số liệu của Tổng cục Thống kê cho thấy giá đầu vào tăng 3,05% so với năm 2012. Như vậy, giảm giá bán là xu hướng chủ đạo của DN nhằm tăng tiêu thụ và giảm tồn kho trong môi trường cạnh tranh gay gắt.

Ngành dịch vụ tuy tăng trưởng cao nhất trong số các ngành kinh tế, nhưng thách thức chưa qua đi. Tiêu dùng dân cư cải thiện khiêm tốn trong bối cảnh thu nhập ít cải thiện và giá cả biến động. Sau khi loại trừ ảnh hưởng tăng giá, doanh thu bán lẻ tăng thực tế 5,6%, thấp hơn năm 2012 (6,5%) và cao hơn năm 2011 (4,7%). Trong số các ngành dịch vụ, thương nghiệp, khách sạn - nhà hàng và dịch vụ tăng 12-13%, trong khi du lịch tăng 3,5% (tức là giảm so với 2012 theo giá cố định) – một biểu hiện của thu nhập giảm hoặc không cải thiện đáng kể.

Tiêu dùng cá nhân có xu hướng cải thiện trong 3 năm kể từ năm 2011, dù còn tương đối chậm. Xét về góc độ sử dụng GDP, tiêu dùng cuối cùng tăng 5,36% so với năm 2012, tăng nhẹ so với 4,9% năm 2012 và 4,1% năm 2011. Tốc độ tăng chậm có nguyên nhân từ xu hướng ưu tiên tiết kiệm và cắt giảm chi tiêu của người tiêu dùng, cho dù về tổng thể, niềm tin có dấu hiệu cải thiện. Theo số liệu của Nielsen (công ty hàng đầu về đo lường và phân tích thông tin của người tiêu dùng), chỉ số niềm tin người tiêu dùng cải thiện dần từ 87 điểm tại quý III/2012 lên 97 điểm trong quý III/2013 và là mức cao nhất kể từ quý IV/2011.

Tổng chi ngân sách năm 2013 ước tăng 8,9% so với cùng kỳ, với tỷ trọng lớn nhất thuộc về chi thường xuyên (gần 70%). So với cùng kỳ năm 2012, khoản mục gia tăng nhanh nhất là chi quốc phòng, an ninh (trên 13%), chi đặc biệt, giáo dục đào tạo và sự nghiệp kinh tế (trên 8%). Tuy tăng nhanh nhất, chi thường xuyên (11%) lại khó kiềm chế nhất do động thái điều chỉnh lương tối thiểu hàng năm và khu vực công đang mở rộng. Chi đầu tư phát triển tăng 3,3% gợi ý đang có sự điều chỉnh trong đầu tư công.

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đang dẫn dắt mức mở rộng đầu tư của nền kinh tế. Vốn FDI thực hiện 12 tháng tăng 9,9% so với cùng kỳ năm trước, đạt 11,5 tỷUSD, mức cao nhất từ trước đến nay. Tổng đầu tư phát triển toàn xã hội tăng 8,0%, đạt 30,4% GDP theo giá hiện hành; Trong đó DN FDI gia tăng đầu tư nhanh nhất 9,9% so với 8,6% của khu vực nhà nước và 6,6% của khu vực ngoài nhà nước. Đầu tư của DN mới thành lập giảm 15% so với năm trước do tâm lý thận trọng và khả năng tiếp cận tín dụng hạn chế.

Tốc độ tăng vốn đăng ký và cấp mới FDI đạt tới 55% cho thấy Việt Nam đang đón một làn sóng đầu tư mới, chủ yếu từ các nước phát triển ở châu Á, hướng vào ngành công nghiệp chế biến. Dù chưa rõ mức độ ảnh hưởng từ hiệp định TPP ra sao nhưng đây là dấu hiệu khích lệ Chính phủ đẩy mạnh các cải cách mang tính thị trường. Chỉ số Thuận lợi kinh doanh do Ngân hàng Thế giới thực hiện phản ánh các điều kiện môi trường kinh doanh của Việt Nam không thay đổi đáng kể và Việt Nam vẫn đứng thứ 99 trong bảng xếp hạng năm 2013.

Thương mại năm 2013 tiếp tục khởi sắc, xuất khẩu đạt 132,2 tỷ USD, tăng 15,4%; Nhập khẩu đạt 131,3 tỷ USD, tăng 15,4%. Ưu thế của DN có vốn FDI kéo dài trong 2 năm qua với kim ngạch chiếm 2/3 trong xuất khẩu và gần 3/5 trong nhập khẩu. Khối này đạt tăng trưởng kim ngạch 2 chiều thương mại trên 25% do sản phẩm xuất khẩu (chủ yếu sang Mỹ và EU) phụ thuộc nhiều vào nguồn linh kiện nhập khẩu (chủ yếu từ Trung Quốc và Hàn Quốc) như bông, vải, nguyên liệu giày dép, linh kiện điện tử và điện thoại.


Mức độ phụ thuộc vào hàng công nghiệp phụ trợ phản ánh khả năng cung cấp rất hạn chế từ trong nước. Kim ngạch xuất khẩu than đá, dầu thô giảm mạnh; hàng nông sản như cà phê, gạo,̀ sắn đều mất giá và lượng. Điều này góp phần giải thích tốc độ tăng khiêm tốn 3,5% của khu vực kinh tế trong nước. Nhập khẩu xăng dầu giảm hơn 20% cho thấy nền kinh tế còn tương đối yếu và xăng dầu nhập khẩu có thể đang bị thay thế bởi nguồn cung trong nước.

Cán cân thương mại cả năm thặng dư 863 triệu USD. Khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 13,1 tỷ USD (tính cả nhập xăng dầu), khu vực có vốn đầu tư nước ngoài xuất siêu 14 tỷ USD. Ngoài ra, dòng kiều hối ổn định cũng giúp cải thiện cán cân vãng lai. Cán cân vốn và tài chính được hỗ trợ nhờ vốn FDI tăng mạnh, song có thể thặng dư thấp hơn năm ngoái do dòng tiền gửi đã chuyển ra nước ngoài khi sự cân bằng giữa VND và USD bị phá vỡ.

Trong năm 2013, thâm hụt cán cân ngân sách ở mức 196.000 tỷ đồng (bằng 5,3% GDP) do hụt thu, một phần do hoạt động kinh tế suy yếu, kinh doanh không có lãi, một phần do biện pháp hỗ trợ giãn thuế, giảm thuế của Chính phủ từ đầu năm, còn lại do trốn và nợ thuế. Trong bối cảnh đó, thu từ phí và lệ phí tăng mạnh (bằng 146,5% dự toán).

Trên thị trường vốn, lãi suất huy động và cho vay giảm 2 - 3% so với đầu năm, huy động vốn kỳ hạn dưới 12 tháng tối đa đạt 7,5%, trên 12 tháng tối đa đạt 8,5%; cho vay nông thôn ở mức 7-9%, vay sản xuất kinh doanh tối đa đạt 10,5%. Tiền gửi tăng tới 15,6% cho thấy đây vẫn là kênh đầu tư được tin cậy dù lãi suất giảm, tuy nhiên, lượng tiền gửi khối DN gia tăng là dấu hiệu đáng lo ngại với hoạt động sản xuất và gây sức ép thừa thanh khoản lên ngân hàng. Ngoài ra, tốc độ tăng tiền gửi USD tới cuối tháng 10 là 12,35% cho thấy lãi suất gửi VND thấp và kỳ vọng mất giá đang dịch chuyển một phần dòng tiền gửi sang ngoại tệ.

Tốc độ tăng trưởng tín dụng có phần chậm lại từ quý III/2013, đạt 8,83% tính đến 12/12/2013 so với 6,44% cuối tháng 8/2013, chịu ảnh hưởng một phần từ tốc độ mở rộng phát hành trái phiếu từ tháng 8. Trái phiếu kỳ hạn 2-3 năm (chiếm 80%) được ưa thích bởi rủi ro thấp và giúp ngân hàng thương mại (NHTM) giải phóng vốn do dư thừa thanh khoản. Dường như sau khi nhận thấy việc tạm dừng phát hành tín phiếu chỉ đạt được những kích thích tín dụng hạn chế (dù có cao hơn trong năm 2012), trong khi thanh khoản bộc lộ dấu hiệu dư thừa thì Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã nối lại hoạt động này từ giữa năm.

Nợ xấu tiếp tục buộc các NHTM duy trì thận trọng trong cho vay kinh doanh và hướng sang các đối tượng cá nhân. Nợ xấu nội bảng tính đến cuối tháng 10/2013 là hơn 146,5 nghìn tỷ đồng, chiếm khoảng 4,73% tổng dư nợ; nợ xấu qua xử lý và theo dõi ngoại bảng là 105,9 nghìn tỷ đồng, tổng cộng là 252,4 nghìn.

Cho tới nay, đã có 8/9 ngân hàng thực hiện đề án tái cơ cấu, Công ty quản lý nợ và tài sản của các tổ chức tín dụng (VAMC) được thành lập vàtiến hành thu mua nợxấu với giá trị tích luỹ khoảng 30.000 tỷ đồng. Tuy Thông tư 02/2013/TT-NHNN về phân loại nợ bị trì hoãn, đồng thời hệ thống xuất hiện thêm 8 tổ chức tín dụng yếu kém cần xử lý, tốc độ tái cơ cấu hệ thống ngân hàng được cho là nhanh và có kết quả rõ ràng.

Với việc áp dụng quy chế điều hành thị trường mở hợp lý (không giới hạn quy mô can thiệp, hạ lãi suất OMO còn 5,5% từ tháng 7/2013) cùng với quy định chặt chẽ hơn (yêu cầu trích lập dự phòng), thị trường liên ngân hàng có một năm tương đối trật tự. Tình trạng chung là dồi dào thanh khoản, căng thẳng không kéo dài lâu và không lan sang các thị trường khác như một số năm trước. Giao dịch tập trung ở kỳ hạn qua đêm và 1 tuần. Tỷ giá được điều chỉnh tăng 1% vào cuối tháng 6/2013 sau khi chạm trần trên thị trường chính thức trong suốt hơn 1 tháng. VND cũng giảm giá nhẹ so với các đồng tiền của các đối tác thương mại chính, trừ Nhật Bản.

Chịu ảnh hưởng từ hu cầu yếu hơn ởtrong nước vàgiávàng lao dốc trên thị trường thế giới, giá vàng SJC đã giảm hơn 24% từ đầu năm. Lượng cung vàng của NHNN đến giữa tháng 12/2013 tương đương 67,5 tấn.

Chỉ số chứng khoán 2 sàn tăng điểm khánhờdòng tiền của nhà đầu tư trong nước. Kết thúc năm 2013, VN-Index tăng khoảng 22% so với đầu năm. HNX-Index tăng gần 14% so với đầu năm. Mức mua ròng của nhà đầu tư ngoại tăng lên mức cao nhất từtrước đến nay (9.900 tỷ đồng), phản ánh triển vọng tích cực của các công ty niêm yết trong bối cảnh nền kinh tế còn tương đối yếu.

Thị trường bất động sản trong năm 2013 đang cho thấy những nỗ lực tự cứu mình với việc lôi kéo người mua khi gói hỗ trợ tín dụng không có tác động đáng kể. Theo Savills, tỷ lệ hấp thụ căn hộ quý III/2013, ở Hà Nội tăng 9%, ở TP. Hồ Chí Minh quý IV/2013 là 11%, so với quý trước nhưng tăng 3,2% trong cả năm, phương thức trả tiền linh hoạt, hỗ trợ tín dụng từ ngân hàng và uy tín của chủ đầu tư. Tốc độ bán hàng và giao dịch mạnh (nhiều dự án ở phân khúc bình dân có tỷ lệ bán đến 80%) trong quý IV/2013 cho thấy tín hiệu tốt đối với thị trường bất động sản. Ngoài ra, lượng vốn FDI đăng ký vào lĩnh vực bất động sản 11 tháng đầu năm 2013 lên tới 884 triệu USD từ 20 dự án đầu tư mới cho thấy tiềm năng của thị trường này vẫn còn dồi dào.

Dự báo năm 2014

Năm 2014 được kỳ vọng là một năm có thêm những thuận lợi cho kinh tế Việt Nam khi nhu cầu từ bên ngoài đang dần dần phục hồi. Các đầu tàu kinh tế thế giới, đặc biệt là Mỹ và Nhật đang chứng kiến những dấu hiệu cải thiện, dù còn chậm và chưa vững chắc. Vốn FDI từ châu Á sẽ tiếp tục hướng nhiều hơn vào ngành chế biến chế, tạo tại Việt Nam, đòi hỏi nhiều hơn những nỗ lực nhằm cải thiện môi trường kinh doanh và đầu tư, bên cạnh đó là việc cân nhắc và thiết kế các chính sách ngành cho phù hợp với tầm nhìn dài hạn.

Ở trong nước, điều kiện vĩ mô dần ổn định trong 2 năm vừa qua (lạm phát và lãi suất) là bệ đỡ cho sản xuất phục hồi, cho dù vẫn còn nhiều quan ngại về sức cạnh tranh của khu vực DN nội địa. Các ngành kinh tế sẽ chứng kiến những thay đổi trong cơ cấu khi quá trình tự điều chỉnh tiếp tục diễn ra, có thể với tốc độ nhanh hơn năm 2013. Tăng trưởng năm 2014 được dự báo một cách sơ bộ khoảng 5,6%, lạm phát ở mức 7,2%. Tỷ giá có thể được điều chỉnh tăng một cách chủ động từ 2-3% tuỳ vào mức độ ưu tiên giữa các lựa chọn chính sách, đi liền với trạng thái tiếp tục thặng dư của cán cân thanh toán tổng thể .

Chính phủ sẽ phải vay nợ nhiều hơn nhằm bù đắp thâm hụt ngân sách, tạo ra những ảnh hưởng đến thị trường vốn. Tuy không tác động trực tiếp ngay đến nền kinh tế, điều này tạo ra những bất ổn tiềm tàng xói mòn kỳ vọng kinh tế của khu vực tư nhân. Nợ xấu có thực sự được giải quyết hay không phụ thuộc vào những chính sách cụ thể của NHNN trong năm 2014. Nếu không có một dòng tiền thật sự chảy vào xử lý các khoản nợ xấu thì vấn đề vẫn chưa ngã ngũ và sự ổn định của toàn bộ hệ thống tài chính vẫn là một mối hoài nghi lớn.

Các rào cản về tư duy quản lý, ý chí cải cách và xử lý các vấn đề cốt lõi thuộc cấu trúc và mô hình kinh tế đòi hỏi các động thái mạnh mẽ hơn từ phía các nhà hoạch định chính sách. Khi các cân bằng vĩ mô đã bước đầu tạo thuận lợi hơn cho công tác điều hành, chính sách cần chuyển hướng ưu tiên sang các vấn đề nền tảng của quá trình tái cấu trúc nền kinh tế, đặc biệt những cải cách mạnh mẽ trong khu vực DNNN.

Bài đăng trên Tạp chí Tài chính số 1 - 2014

Từ khóa: nền kinh tế Việt Nam , điều kiện vĩ mô , sản xuất phục hồi , kinh tế vĩ mô , kinh tế vĩ mô , Tỷ lệ lạm phát , Ngành công nghiệp , người tiêu dùng Các tin đã đưa Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chuẩn bị đón tết Nguyên đán 2014 Kinh tế thế giới tác động tích cực tới Việt Nam trong 2014 Xem lại quan điểm doanh nghiệp FDI chèn ép doanh nghiệp Việt Năm 2014: Tăng tốc kiểm toán hoạt động tái cơ cấu nền kinh tế Năm 2014, vốn ngoại sẽ chảy mạnh vào bất động sản Nâng cao năng lực cạnh tranh thu hút FDI Đầu tư hạng mục casino: Nhà cái vẫn "xuống tiền" Kinh tế Việt Nam – Chỉ có thể đi lên bằng đôi chân vững vàng và khối óc minh mẫn Cần sớm đưa những nội dung quan trọng của Thông điệp vào cuộc sống 4 nhóm ngành đáng để đầu tư năm 2014 Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN: NHÌN LẠI NĂM 2013 VÀ TRIỂN VỌNG NĂM 2014 2013 tiếp tục là một năm có nhiều khó khăn đối với thị trường bất động sản Việt Nam ở phần lớn các phân khúc, dẫu cuối năm đã có những điểm sáng. Tuy nhiên, những tồn đọng, điểm nghẽn đã bước đầu được xử lý, đang tạo nền tảng để có những chuyển biến lớn trong năm 2014.

Đọc nhiều nhất Một số thắc mắc liên quan những quy định mới về thuế giá trị gia tăng Những điểm nổi bật của thị trường bất động sản năm 2013 và dự báo năm 2014 Học Thạc sỹ tại Việt Nam cấp bằng chuẩn Vương quốc Anh Ngân hàng Nhà nước chỉ thị về thực hiện chính sách tiền tệ năm 2014 Không thực hiện đúng quy định của pháp luật về nộp thuế sẽ bị cưỡng chế thuế Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

Thứ Hai, 3 tháng 3, 2014

Sửa chính sách cổ phần hóa, thúc đẩy quá trình tái cơ cấu

Sửa chính sách cổ phần hóa, thúc đẩy quá trình tái cơ cấu

Thứ năm 16/01/2014 09:19

Nguyễn Huy Long - Phó Cục trưởng Cục Tài chính doanh nghiệp

(Tài chính) Bắt đầu có hiệu lực từ  ngày 15/1/2014, Nghị định 189/2013/NĐ-CP với 8 nội dung lớn được điều chỉnh sẽ góp phần hoàn thành 1 trong những giải pháp quan trọng và trọng tâm của quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước (DNNN) theo Quyết định số 929/QĐ-TTg ngày 17/7/2012 của Thủ tướng Chính phủ, đó là triển khai thành công kế hoạch cổ phần hóa (CPH) các DN 100% vốn nhà nước.

Nghị định 189/2013/NĐ-CP khắc phục một số bất cập trong xác định giá trị quyền sử dụng đất. Nguồn: internet

Ngày 20/11/2013, Chính phủ ban hành Nghị định 189/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 59/2011/NĐ-CP về chuyển doanh nghiệp (DN) 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần. Việc sửa đổi bổ sung này nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn, đồng thời tạo thuận lợi hơn cho các DNNN thực hiện CPH đúng lộ trình.

Khắc phục bất cập trong xác định giá trị quyền sử dụng đất

Việc xác định giá trị quyền sử dụng đất của DN CPH đã thực hiện điều chỉnh quy định về nguyên tắc tất cả diện tích đất DN CPH đang quản lý và sử dụng phục vụ sản xuất kinh doanh phải chuyển sang thực hiện ký hợp đồng thuê đất có thời hạn với cơ quan có thẩm quyền (trừ những trường hợp đặc biệt thì có cơ chế xử lý riêng).

Đối với những diện tích đất DN CPH đã được giao đất và đã nộp tiền sử dụng đất cho ngân sách nhà nước hoặc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất hợp pháp để sử dụng vào mục đích xây dựng nhà để bán và xây dựng kết cấu hạ tầng để chuyển nhượng hoặc cho thuê thì phải xác định lại giá trị quyền sử dụng đất để tính vào giá trị DN.

Giá đất sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất có mục đích sử dụng tương tự thực tế trên thị trường do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (nơi DN có diện tích đất được giao) xác định nhưng không thấp hơn bảng giá đất do UBND cấp tỉnh, thành phố quy định và công bố tại thời điểm gần nhất với thời điểm tính giá đất vào giá trị DN CPH theo quy định của pháp luật về đất đai.

Đối với diện tích đất đã giao cho DN và DN đã sử dụng để góp vốn thành lập pháp nhân mới thì cơ quan có thẩm quyền quyết định phê duyệt phương án CPH xem xét xử lý theo nguyên tắc: Chuyển giao cho DN 100% vốn nhà nước khác làm đối tác nếu được các đối tác góp vốn trong pháp nhân mới chấp thuận; hoặc DN tiếp tục kế thừa tính vào giá trị DN CPH.

Đối với diện tích đất còn lại DN CPH thực hiện hình thức thuê đất có thời hạn theo quy định của pháp luật về đất đai và không phải tính bổ sung giá trị lợi thế vị trí địa lý khi xác định giá trị DN. Trường hợp DN đã được giao đất hoặc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất hợp pháp để phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của DN nay thực hiện hình thức thuê đất thì phải hoàn tất thủ tục chuyển sang thuê đất.

Các quy định trên nhằm khắc phục bất cập trong công tác quản lý, sử dụng đất tại các DN trong thời gian qua, tạo điều kiện thuận lợi để Nhà nước triển khai thực hiện các quy hoạch, sử dụng quỹ đất có hiệu quả, tránh thất thoát; khắc phục bất cập trong việc xác định giá trị quyền sử dụng đất trong thời gian qua để đẩy nhanh tiến trình cổ phần hoá.

Phải đối chiếu toàn bộ công nợ

Theo quy định, DN CPH phải tiến hành đối chiếu toàn bộ các khoản công nợ đến thời điểm xác định giá trị DN và có biện pháp xử lý dứt điểm các khoản công nợ không có khả năng thu hồi theo đúng chế độ Nhà nước đã quy định. Quy định này là phù hợp vì theo cơ chế quản lý tài chính  hiện hành thì DN phải thực hiện đối chiếu công nợ thường xuyên, định kỳ khi kết thúc năm tài chính (không chỉ khi CPH).

Tuy nhiên, để tạo điều kiện đẩy nhanh tiến độ CPH DNNN trong thời gian tới, Nghị định đã điều chỉnh trong một số trường hợp do thời điểm CPH không trùng với thời điểm kiểm kê khóa sổ kế toán lập báo cáo tài chính, DN quy mô lớn, đối tượng công nợ nhiều, không kịp đối chiếu hết thì DN CPH phải báo cáo các Bộ, địa phương xem xét, xử lý theo hướng:

Đến thời điểm xác định giá trị DN có thể chấp thuận một số khoản công nợ có đầy đủ hồ sơ chưa được đối chiếu, xác nhận thì Hội đồng thành viên DN CPH phải giải trình rõ nội dung các khoản nợ, xác định rõ trách nhiệm tập thể, cá nhân liên quan phải hoàn tất việc đối chiếu công nợ trước thời điểm DN CPH được cấp Giấy chứng nhận đăng ký DN lần đầu và báo cáo cơ quan có thẩm quyền quyết định giá trị DN xem xét, quyết định theo giá trị đang theo dõi trên sổ sách kế toán; đồng thời phải công bố công khai trong quyết định phê duyệt giá trị DN cũng như phương án cổ phần hoá làm cơ sở bán đấu giá cổ phần.

Tại thời điểm DN CPH được cấp Giấy chứng nhận đăng ký DN lần đầu, khi lập báo cáo tài chính để bàn giao từ DN 100% vốn nhà nước sang công ty cổ phần, nếu các khoản công nợ này vẫn chưa được đối chiếu, xác nhận thì xem xét, xử lý theo hướng: Đối với nợ phải trả DN đã làm đủ thủ tục đối chiếu nợ nhưng không xác nhận được chủ nợ thì được hạch toán ghi tăng vốn nhà nước tương ứng và công ty cổ phần mới có trách nhiệm lưu trữ hồ sơ, tiếp tục kế thừa, theo dõi để thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi chủ nợ yêu cầu.

Đối với nợ phải thu DN đã làm thủ tục đối chiếu nhưng vẫn chưa đối chiếu được thì phải xem xét, xử lý trách nhiệm bồi thường đối với tập thể, cá nhân có liên quan. Giá trị khoản nợ còn lại (sau khi bù trừ khoản bồi thường của các cá nhân, tập thể, quỹ dự phòng nợ phải thu khó đòi) được hạch toán vào chi phí sản xuất kinh doanh của DN CPH.

Tháo gỡ khó khăn cho những DN đã CPH

Điểm đáng chú ý là quy định tháo gỡ khó khăn cho những DN đã CPH theo cơ chế trước đây gặp vướng mắc về việc tính giá trị lợi thế vị trí địa lý của đất thuê vào giá trị DN.

Theo Nghị định 189/2013/NĐ-CP thì đối với các DN đã xác định giá trị lợi thế vị trí địa lý đất thuê vào giá trị DN và hạch toán tăng phần vốn nhà nước tại DN khi xác định giá trị DN để CPH được cấp có thẩm quyền công bố giá trị DN theo quy định trước ngày Nghị định 59/2011/NĐ-CP có hiệu lực thì được khấu trừ giá trị lợi thế vị trí địa lý vào tiền thuê đất phải nộp của DN CPH. Đối với các DN CPH theo Nghị định số 109/2007/NĐ-CP mà chưa tính giá trị lợi thế vị trí địa lý thì được áp dụng Nghị định số 59/20111/NĐ-CP  không phải tính bổ sung giá trị lợi thế vị trí địa lý và điều chỉnh vốn Nhà nước tại DN.

Với những nội dung điều chỉnh nêu trên sẽ góp phần hoàn thành một trong những giải pháp quan trọng và trọng tâm của quá trình tái cơ cấu DNNN theo Quyết định số 929/QĐ-TTg ngày 17/7/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án tái cơ cấu DNNN, trọng tâm là tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước giai đoạn 2011-2015 đó là triển khai thành công kế hoạch CPH các DN 100% vốn nhà nước.

Theo chinhphu.vn

Từ khóa: Nghị định 189/2013/NĐ-CP , doanh nghiệp nhà nước , Quyết định số 929/QĐ-TTg , cổ phần hóa , quỹ dự phòng nợ , chi phí , sản xuất kinh doanh , nghĩa vụ trả nợ Các tin đã đưa Sửa chính sách cổ phần hóa, thúc đẩy quá trình tái cơ cấu Cần sửa đổi các quy định để ngăn chặn gian lận trong hoàn thuế Giá trị gia tăng Tháo gỡ vướng mắc về thủ tục hải quan Bước tiến dài trong cải cách Hành lang pháp lý mới cho SCIC Thuế Thu nhập doanh nghiệp: Mạnh tay ưu đãi Nghị định 189/2013/NĐ-CP: Thêm lực đẩy cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước Sản phẩm bảo hiểm hưu trí tự nguyện theo quy định của pháp luật Việt Nam Hoàn thiện cơ chế mua sắm tập trung: “Cần thiết và cấp bách” Quy định mới được sửa đổi, bổ sung về thuế Giá trị gia tăng Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG GIÁ CẢ NĂM 2013 VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐIỀU HÀNH NĂM 2014 Chỉ số CPI bình quân năm 2013 tăng 6,60% so với năm 2012 - mức tăng thấp nhất trong 10 năm qua là một trong những thành tích nổi bật trong công tác điều hành của Chính phủ, phản ánh thành công của việc bình ổn thị trường, kiềm chế lạm phát. Tuy nhiên, việc quản lý, điều hành giá cả trong năm 2014 được dự báo vẫn không ít thách thức.

Đọc nhiều nhất Kiểm toán Nhà nước sẽ tham gia vào cuộc đấu tranh chống chuyển giá như thế nào? Nhiều “ông lớn” báo lãi lớn Hải quan Quảng Ninh: Triệt phá đường dây buôn bán, vận chuyển trái phép ma túy Bộ trưởng Bộ Tài chính tặng Bằng khen cho 5 tập thể và 28 cá nhân ngành Công an Kinh tế Việt Nam – Chỉ có thể đi lên bằng đôi chân vững vàng và khối óc minh mẫn Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article

Thứ Hai, 20 tháng 1, 2014

Sắp có quy trình mới để thẩm tra quyết toán Dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước

Sắp có quy trình mới để thẩm tra quyết toán Dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước

Thứ năm 09/01/2014 16:30

(Tài chính) Từ ngày 16/2 tới đây, sẽ thực hiện theo quy trình mới về thẩm tra quyết toán dự án hoàn thành đối với các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước.

Chủ đầu tư phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và cơ quan thẩm tra quyết toán về tính đúng đắn của số liệu đề nghị quyết toán. Nguồn: internet

Những quy định trên được Bộ Tài chính ban hành tại Thông tư số 04/ 2014/TT-BTC. Thông tư quy định quy trình thẩm tra quyết toán đối với các dự án, hạng mục hoàn thành (hoặc bị dừng vĩnh viễn) sử dụng nguồn vốn đầu tư từ Dự toán ngân sách nhà nước; khuyến khích áp dụng Quy trình này để thẩm tra quyết toán đối với dự án sử dụng các nguồn vốn khác.

Quy trình thực hiện công tác thẩm tra quyết toán gồm các bước: Tiếp nhận hồ sơ trình duyệt quyết toán; Thẩm tra quyết toán và trình người có thẩm quyền phê duyệt quyết toán.

Theo quy định, công tác thẩm tra quyết toán phải tuân thủ các cơ chế chính sách của Nhà nước phù hợp với từng thời kỳ thực hiện dự án. Cơ quan chủ trì thẩm tra được đề nghị các cơ quan chức năng quản lý chuyên ngành xem xét, giải quyết những kiến nghị, vướng mắc liên quan đến quyết toán dự án hoàn thành để trình cấp có thẩm quyền quyết định phê duyệt quyết toán. Báo cáo kết quả thẩm tra quyết toán phải bảo đảm tính đúng đắn, trung thực, khách quan.

Cơ quan thẩm tra quyết toán, cán bộ trực tiếp thẩm tra quyết toán chịu trách nhiệm tuân thủ trình tự, nội dung các bước thẩm tra theo quy định tại Thông tư này; chịu trách nhiệm về nội dung của Báo cáo kết quả thẩm tra trên cơ sở hồ sơ quyết toán do chủ đầu tư cung cấp và Báo cáo kết quả kiểm toán dự án hoàn thành của kiểm toán độc lập hoặc Kiểm toán Nhà nước (nếu có).

Cơ quan thẩm tra quyết toán, cán bộ trực tiếp thẩm tra quyết toán không chịu trách nhiệm về tính chính xác của khối lượng do chủ đầu tư và nhà thầu đã nghiệm thu đưa vào báo cáo quyết toán; không chịu trách nhiệm về đơn giá dự toán đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt và đơn giá trúng thầu đã được người quyết định trúng thầu quyết định, chủ đầu tư và nhà thầu đã thống nhất ghi trong hợp đồng.

Nhà thầu kiểm toán độc lập, kiểm toán viên chịu trách nhiệm trước pháp luật và chủ đầu tư về nội dung và tính đúng đắn của số liệu trong Báo cáo kết quả kiểm toán dự án hoàn thành trên cơ sở hồ sơ quyết toán do chủ đầu tư cung cấp.

Về phía chủ đầu tư, phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, cơ quan thẩm tra quyết toán về tính pháp lý của hồ sơ quyết toán và tính đúng đắn của số liệu đề nghị quyết toán; tính chính xác của khối lượng do chủ đầu tư và nhà thầu nghiệm thu đưa vào báo cáo quyết toán; tính phù hợp của đơn giá do chủ đầu tư và nhà thầu đã thống nhất ghi trong hợp đồng.

Ngoài ra, Thông tư quy định cụ thể trình tự thẩm tra quyết toán đối với dự án đã thực hiện và các dự án không thực hiện kiểm toán báo cáo quyết toán; trình tự phê duyệt quyết toán.

Thông tư này thay thế Quyết định số 56/2008/QĐ-BTC ngày 17/7/2008 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc ban hành Quy trình thẩm tra quyết toán dự án hoàn thành đối với các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước.

Theo baohaiquan.vn

Từ khóa: ngân sách nhà nước , Thông tư số 04/ 2014/TT-BTC , nhà thầu kiểm toán độc lập , chủ đầu tư , vốn ngân sách nhà nước , dự án Các tin đã đưa Điều kiện đối với tổ chức kiểm toán độc lập các đơn vị có lợi ích công chúng Sắp có quy trình mới để thẩm tra quyết toán Dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước Quy định mới về C/O mẫu D Công bố giá bán tem rượu Quy định mới về vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán Giá thuê đất sẽ tính từng năm hoặc cho cả thời hạn thuê Áp thuế 0% đối với hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế giá trị gia tăng Trốn nộp phí, lệ phí bị phạt tới 50 triệu đồng Siết chặt quản lý bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc Quy định về chế độ, chính sách đối với thân nhân chiến sĩ đang phục vụ trong Công an nhân dân Bản in Facebook Zing Me LinkHay Viết bình luận Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

Họ và tên:  (*) 

Địa chỉ Email:   (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

(*) Nhập mã bảo mật Protected by FormShield Refresh

Tiêu điểm tài chính BỨC TRANH TÀI CHÍNH - NGÂN SÁCH NĂM 2013 VÀ ĐỊNH HƯỚNG NĂM 2014 Nhờ thực hiện Nghị quyết của Đảng, Quốc hội, sự chỉ đạo kịp thời, quyết liệt của Chính phủ, sự vào cuộc của cấp ủy chính quyền các địa phương, ủng hộ và nỗ lực vươn lên của cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân, công tác điều hành tài chính - ngân sách nhà nước năm 2013 đã đạt được những kết quả tích cực, tạo cơ sở để toàn ngành Tài chính tiếp tục thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị trong năm 2014.

Đọc nhiều nhất BIDV hợp tác với Ogilvy&Mather Việt Nam thực hiện dự án Tư vấn xây dựng chiến lược phát triển thương hiệu Trợ giúp đồng bào di cư từ Campuchia về quê ăn Tết "Siêu lừa" Huyền Như: từ ảo mộng đại gia bất động sản đến vành móng ngựa Đến thời điểm huy động vàng chưa? Kiểm soát tốt lạm phát: Nhìn từ quốc tế đến trong nước Số 8 Phan Huy Chú, Hoàn Kiếm, Hà Nội - Tel 04.39330038, Fax: 04.38252251, Email: tapchitaichinh.btc@gmail.com
Giấy phép xuất bản số 64/GP-TTĐT do Bộ Thông tin & Truyền thông cấp ngày 01/04/2011 - Cơ quan chủ quản: Bộ Tài Chính
Powered by ePi Technologies Lên đầu trang

View the Original article